• Skip to primary navigation
  • Skip to main content
  • Skip to footer
  • Hà Nội
  • TPHCM
  • Đà Nẵng
  • Sàng lọc thai NIPT
  • Chẩn đoán ung thư
  • Sàng lọc gen lặn
  • Chẩn đoán di truyền
  • Hà Nội
  • TPHCM
  • Đà Nẵng
  • Zalo
  • Facetime
  • Viber
  • Web chat
  • Gọi
  • Zalo
  • Dịch vụ
  • Địa chỉ
  • Đặt hẹn

Trung tâm xét nghiệm ihope

  • Xét nghiệm
    • Sàng lọc thai NIPT

      Phát hiện sớm hội chứng Down

    • Chẩn đoán ung thư

      Hỗ trợ điều trị trúng đích và miễn dịch

    • Sàng lọc gen lặn

      Phát hiện sớm các bệnh di truyền

    • Chẩn đoán di truyền

      Bệnh di truyền ở trẻ em và người lớn

    • Hợp tác
  • Thư viện
  • Hỗ trợ
  • Liên hệ
  • Xét nghiệm
    • Sàng lọc thai NIPT
    • Chẩn đoán ung thư
    • Sàng lọc gen lặn
    • Chẩn đoán di truyền
  • Links
    • Hỗ trợ
    • Liên hệ
    • Hợp tác
    • Thư viện
  • Gọi ngay
Thư viện Sinh sảnMang thaiChăm sóc thai

Xét nghiệm tiền sản giật PEscreen

15/11/202508/12/2025
Xet nghiem tien san giat pescreen

Tiền sản giật là một biến chứng nghiêm trọng trong thai kì, thường xuất hiện sau tuần thứ 20 với biểu hiện chủ yếu gồm tăng huyết áp và tăng protein niệu, đồng thời tiền sản giật có thể gây ra nhiều rối loạn nghiêm trọng các cơ quan khác trong cơ thể. Đáng chú ý, tại các nước đang phát triển, tỉ lệ mắc tiền sản giật cao gấp 7 lần so với các nước phát triển, nên nguy cơ sinh non và tử vong cả mẹ và con gia tăng đáng kể.

Trước đây, tiền sản giật được phát hiện chủ yếu dựa vào quá trình theo dõi các dấu hiệu lâm sàng như huyết áp, tình trạng phù và chỉ số protein niệu. Tại một số nơi có điều kiện tốt hơn, thai phụ được thực hiện xét nghiệm các chỉ số sinh học như tỉ lệ sFlt-1/PlGF. Tuy nhiên, các phương pháp này còn nhiều hạn chế như độ chính xác chưa cao, chi phí đắt và đòi hỏi kĩ thuật phức tạp. Do đó, công tác tầm soát tiền sản giật trở nên khó khăn, nhất là tại các vùng có điều kiện y tế hạn chế.

Trước thực trạng này, các nhà khoa học đã nghiên cứu và phát triển những phương pháp xét nghiệm mới, trong đó có PEscreen. Đây là một xét nghiệm nhanh, có thể thực hiện ngay tại điểm chăm sóc y tế, không đòi hỏi trang thiết bị phức tạp. PEscreen được thiết kế với mục tiêu giúp mọi thai phụ dù tại bất kì tuyến y tế nào đều có thể tiếp cận với tầm soát tiền sản giật. Sự ra đời của những xét nghiệm như PEscreen mở ra hy vọng mới trong phát hiện sớm và phòng ngừa hiệu quả biến chứng nguy hiểm này trên quy mô rộng.

Cơ sở khoa học

Xét nghiệm PEscreen được phát triển dựa trên sự thay đổi của các protein đặc hiệu trong máu thai phụ, đặc biệt là hai protein PlGF và sFlt-1. Hai protein này nắm vai trò then chốt trong quá trình phát triển mạch máu nhau thai. Trong đó, PlGF có nhiệm vụ kích thích tạo mạch máu mới, còn sFlt-1 kiểm soát và ức chế quá trình tạo mạch.

Trong thai kì bình thường, hai protein này luôn duy trì trạng thái cân bằng nhằm đảm bảo sự phát triển khỏe mạnh của thai nhi. Tuy nhiên, khi thai phụ có nguy cơ tiền sản giật, sự cân bằng này bị phá vỡ nghiêm trọng. Protein ức chế sFlt-1 tăng cao, trong khi protein tạo mạch PlGF lại giảm thấp đột ngột. Ngoài ra, một số protein đặc hiệu khác do nhau thai tiết ra cũng thay đổi bất thường.

Nhứng biến đổi này xảy ra rất sớm, từ nhiều tuần trước khi thai phụ có các dấu hiệu tăng huyết áp hay protein niệu. Bằng cách sử dụng một giọt máu từ đầu ngón tay, xét nghiệm PEscreen có thể nhanh chóng phát hiện những thay đổi bất thường của các protein này. Từ kết quả xét nghiệm, bác sĩ đánh giá nguy cơ tiền sản giật và có biện pháp theo dõi, phòng ngừa phù hợp nhằm bảo vệ sức khỏe của cả mẹ và thai nhi.

Nguyên lí hoạt động của bộ xét nghiệm

Bộ xét nghiệm bao gồm một que thử, một lọ dung dịch đệm và một ống nhỏ giọt để lấy máu. Mỗi thành phần này đều có vai trò riêng trong quá trình xét nghiệm.

Nhân viên y tế dùng ống nhỏ gọt lấy mẫu từ thai phụ và chuyển giọt máu này cùng với dung dịch đệm lên que thử. Dung dịch đệm giúp máu chảy đều trên que thử và tạo môi trường thích hợp cho phản ứng xảy ra.

Trên que thử, kháng thể cho các protein đặc hiệu được dàn trải. Protein trong máu thai phụ gặp và kết hợp với các kháng thể này rồi tạo thành những vạch màu trên que thử. Màu sắc và độ đậm nhạt của các vạch sẽ cho biết nguy cơ tiền sản giật của thai phụ.

Toàn bộ quá trình diễn ra trong vòng 15 phút, kết quả hiện ngay trên que thử. Đáng chú ý, xét nghiệm này không cần bất kì thiết bị hay điều kiện bảo quản phức tạp nào. Que thử không cần giữ lạnh, không đòi hỏi máy móc chuyên dụng. Kết quả có thể đọc được bằng mắt thường hoặc bằng một máy đọc đơn giản, tùy theo loại que thử.

Chính nhờ tính đơn giản và tiện lợi, xét nghiệm PEscreen rất thích hợp để sử dụng tại nhiều nơi từ các bệnh viện lớn đến trạm y tế vùng xa, từ phòng khám tư nhân đến các địa điểm thiếu trang thiết bị hiện đại.

Qui trình thực hiện

Xét nghiệm PEscreen có thể thực hiện bởi bác sĩ, điều dưỡng hoặc kĩ thuật viên y tế được đào tạo cơ bản.

Các bước cơ bản bao gồm:

  • Lấy mẫu máu đầu ngón tay của sản phụ
  • Cho mẫu vào thiết bị thử cùng dung dịch đệm
  • Chờ khoảng 15 phút
  • Đọc vị trí vạch thử so với vạch đối chứng để xác định nguy cơ tiền sản giật

Xét nghiệm được khuyến cáo cho mọi thai phụ trong các lần khám thai định kì bắt đầu từ tam cá nguyệt thứ nhất, có thể lặp lại trong các lần khám tiếp theo tuỳ nguy cơ lâm sàng hoặc theo hướng dẫn chuyên môn.

Cách đọc kết quả

Vạch trên que

Que thử PEscreen được thiết kế với hai vạch chính để đọc kết quả.

  • Vạch đối chứng (Control line – C): vạch bắt buộc phải xuất hiện trong mọi trường hợp để xác nhận que thử hoạt động đúng và kết quả có giá trị. Vạch này thường nằm tại vị trí phía trên hoặc được đánh dấu rõ ràng trên que thử.
  • Vạch test (Test line – T): vạch chỉ báo kết quả xét nghiệm, thường nằm phía dưới hoặc gần vùng mẫu. Sự xuất hiện hay không xuất hiện của vạch này sẽ cho biết nguy cơ tiền sản giật của thai phụ.

Các trường hợp kết quả

  • Âm tính (nguy cơ thấp): chỉ có vạch đối chứng (C) xuất hiện, không có vạch test (T). Điều này có nghĩa là nồng độ các chỉ dấu sinh học nguy cơ tiền sản giật trong máu thai phụ có mức bình thường, nguy cơ phát triển tiền sản giật thấp. Thai phụ vẫn cần tiếp tục khám thai định kì.​
  • Dương tính (nguy cơ cao): cả hai vạch đối chứng (C) và vạch test (T) đều xuất hiện. Kết quả này cho thấy nồng độ các protein chỉ dấu tiền sản giật trong máu tăng cao bất thường, thai phụ có nguy cơ cao phát triển tiền sản giật. Trường hợp này cần được theo dõi sát sao, thai phụ có thể được chỉ định dùng aspirin liều thấp dự phòng và tăng tần suất khám thai.​
  • Không hợp lệ (Invalid): chỉ có vạch test (T) xuất hiện mà không có vạch đối chứng (C), hoặc không có vạch nào xuất hiện cả. Nguyên nhân có thể do que thử bị lỗi hoặc thao tác không đúng, cần thực hiện lại xét nghiệm với que thử mới.

Vạch test có thể xuất hiện với độ đậm nhạt khác nhau tuỳ theo nồng độ protein chỉ dấu trong máu. Ngay cả khi vạch test mờ nhạt, nếu nhìn thấy rõ vẫn được coi là kết quả dương tính và cần được đánh giá kĩ bởi bác sĩ. Kết quả xét nghiệm nhanh luôn cần được kết hợp với đánh giá lâm sàng toàn diện, bao gồm huyết áp, tiền sử bệnh, triệu chứng lâm sàng và các xét nghiệm bổ sung khác để có quyết định điều trị chính xác nhất.​

Ứng dụng lâm sàng

PEscreen giữ vai trò thiết yếu trong tầm soát và quản lí tiền sản giật xuyên suốt thai kì. Thời điểm vàng để thực hiện xét nghiệm này là trong tam cá nguyệt thứ nhất (tuần 11–14), khi hiệu quả dự phòng đạt cao nhất. Với độ nhạy lên đến 88–100% khi kết hợp với các yếu tố lâm sàng khác, PEscreen có thể phát hiện sớm những thai phụ có nguy cơ cao phát triển tiền sản giật.

Xét nghiệm này được thiết kế để được tích hợp dễ dàng vào qui trình khám thai định ki, có thể thực hiện cùng lúc với siêu âm sàng lọc dị tật trong tuần thai 11–14. Khi phát hiện thai phụ có nguy cơ cao, bác sĩ có thể chỉ định aspirin liều thấp trước tuần 16.

Một ưu điểm nổi bật của PEscreen là khả năng triển khai rộng rãi tại mọi tuyến y tế, từ trạm y tế xã đến các bệnh viện lớn. Xét nghiệm có thể được thực hiện nhiều lần trong thai kì nhằm theo dõi sự thay đổi nguy cơ, đồng thời hỗ trợ chẩn đoán khi thai phụ có dấu hiệu nghi ngờ tiền sản giật. Kết quả xét nghiệm giúp bác sĩ phân tầng nguy cơ và tối ưu hóa nguồn lực y tế, tập trung chăm sóc chuyên biệt cho nhóm nguy cơ cao trong khi giảm can thiệp không cần thiết cho nhóm nguy cơ thấp.

Nhiều quốc gia đã tích hợp PEscreen vào chương trình chăm sóc sức khỏe bà mẹ quốc gia, cho thấy tính khả thi và hiệu quả của xét nghiệm này trong cải thiện chất lượng chăm sóc thai sản và giảm thiểu biến chứng tiền sản giật trên diện rộng.

Ưu điểm

Xét nghiệm PEscreen thỏa mãn hàng loạt tiêu chí lí tưởng cho một giải pháp sàng lọc thai sản toàn dân:

  • Thao tác đơn giản, không cần chuyên viên xét nghiệm, phù hợp cả phòng khám tư lẫn các bệnh viện tuyến dưới
  • Thời gian cho kết quả ngắn (15 phút), trả kết quả ngay tại chỗ mà không cần gửi mẫu về tuyến trên
  • Không cần bảo quản lạnh, vận chuyển thuận lợi, bảo quản bền vững hơn các loại sinh phẩm thông thường
  • Giá thành thấp, phù hợp với ngân sách y tế cộng đồng, đồng thời giảm thiểu chi phí điều trị biến chứng về sau
  • Có thể áp dụng lặp lại nhiều lần trong các lần khám thai để tầm soát liên tục

Hạn chế và lưu ý

Độ chính xác của PEscreen có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố bao gồm các rối loạn chuyển hóa của thai phụ, bệnh lí mạn tính nền, hay thậm chí những sai sót trong quá trình thực hiện xét nghiệm. Do đó, kết quả xét nghiệm cần được kiểm tra và diễn giải cẩn thận theo từng bước.

  • Đánh giá toàn diện tình trạng thai phụ
  • Kết hợp với các xét nghiệm bổ sung khi cần
  • Tuân thủ hướng dẫn chuyên môn quốc tế mới nhất
  • Theo dõi sát diễn biến trong suốt thai kì

Lời kết

Sự ra đời của các bộ xét nghiệm tầm soát tiền sản giật tại điểm chăm sóc điển hình như PEscreen đã mở ra kỉ nguyên mới trong công tác theo dõi và chăm sóc thai kì. Với ưu điểm vượt trội về tính đặc hiệu của các dấu ấn sinh học cùng thiết kế tiện dụng, chi phí hợp lí và thời gian trả kết quả nhanh chóng, bộ xét nghiệm này không chỉ phát hiện sớm các thai phụ có nguy cơ cao mà còn hỗ trợ thực hành y học chính xác trong sản khoa. Đây thực sự là một bước tiến vượt bậc trong kiểm soát biến chứng tiền sản giật, góp phần bảo vệ sức khỏe của cả mẹ và thai nhi.

References

  1. Intignus Biotech (2025). PEscreen: Preeclampsia Screening Test. Retrieved November 9, 2025, from https://intignusbiotech.com/preeclampsia-screening-test/
  2. PMC (2024). Biomarkers and point of care screening approaches for the prediction and early diagnosis of preeclampsia. Retrieved November 9, 2025, from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC11493996/
  3. El-Demerdash OH, Zaki MM, El Maraghy MO, Elzoghby DMA, Abdel-Wahed MA, et al. (2018). PlGF, sFlt-1 and sFlt-1/PlGF ratio: Promising markers for predicting pre-eclampsia. J Gynecol Res Obstet 4(2): 018-023. Retrieved November 9, 2025, from https://www.clinsurggroup.us/articles/JGRO-4-152.php
  4. Villgro (2024). Preeclampsia: Understanding the Need of Early Detection for Safer Pregnancy. Retrieved November 9, 2025, from https://villgro.org/preeclampsia-understanding-the-need-of-early-detection-for-safer-pregnancy/
  5. BMJ Pregnancy and Childbirth (2025). Preterm preeclampsia screening and prevention: a comprehensive approach to implementation in a real-world setting. Retrieved November 9, 2025, from https://bmcpregnancychildbirth.biomedcentral.com/articles/10.1186/s12884-025-07154-6

Filed Under: Chăm sóc thai Tagged With: Tiền sản giật

Nhiễm trùng TORCH trong thai kì
Chẩn đoán tiền sản giật dựa trên protein niệu

Related posts

  • Nhiễm trùng TORCH trong thai kì

    Chăm sóc thai
  • Ung thư khi mang thai

    Sức khỏe
  • Trĩ trong thai kỳ – Nguyên nhân và cách phòng ngừa

    Mang thai
  • Nên ăn gì khi bị tiểu đường thai kì?

    Chăm sóc thai
  • Bị cúm khi mang thai

    Chăm sóc thai
  • Vì sao phải làm xét nghiệm sàng lọc thai?

    Sàng lọc NIPT

Footer

  • Xét nghiệm

    • Sàng lọc thai NIPT
    • Chẩn đoán ung thư
    • Sàng lọc sơ sinh
    • Sàng lọc gen lặn
    • Bệnh di truyền
  • Giới thiệu

    • Về chúng tôi
    • Công nghệ
    • Thư viện
    • Hợp tác
  • Hỗ trợ

    • Hỏi đáp
    • Bảo hành
    • Chính sách
  • Liên hệ

    • +84968911884
    • [email protected]
    • Địa chỉ