Tiền sản giật là một biến chứng xảy ra trong quá trình phụ nữ mang thai với các biểu hiện gồm tăng huyết áp, nồng độ protein trong nước tiểu cao một cách bất thường (protein niệu). Tình trạng này thường xảy ra vào những tháng cuối thai kì và thường dẫn đến sinh non. Tuy nhiên, tiền sản giật có thể xảy ra ngắn sau khi sinh (tiền sản giật hậu sinh).
Tiền sản khá giật phổ biến và hay xuất hiện trong tất cả các cộng đồng dân cư, ước tính khoảng 5–8% phụ nữ mang thai sẽ bị tiền sản giật. Nó thường xảy ra nhiều hơn trên những phụ nữ gốc Phi hoặc Tây Ban Nha hơn phụ nữ gốc châu Âu.
Biểu hiện lâm sàng
Rất nhiều phụ nữ bị tiền sản giật nhẹ không cảm thấy mệt mỏi hay ốm đau nên chỉ phát hiện khi đo huyết áp và xét nghiệm nước tiểu. Ngoài huyết áp cao và protein niệu, tiền sản giật còn gây ra các triệu chứng và dấu hiệu khác như phù mặt, phù tay và thể trọng tăng từ 1,5kg đến 2,5kg do tích nước. Phụ nữ bị tiền sản giật có thể cảm thấy đau đầu, chóng mặt, tâm trạng khó chịu, bức rứt, hụt hơi, tiểu ít, đau bụng vùng trên, buồn nôn và hay nôn. Thay đổi thị lực có thể xuất hiện như tăng nhạy cảm với đèn flash, đèn sáng, nhìn mờ hoặc thậm chí mù tạm thời.
Trong rất nhiều trường hợp, các triệu chứng tiền sản giật biến mất trong vòng vài ngày sau khi sinh. Tuy nhiên với các ca trầm trọng, tiền sản giật có thể phá hủy các cơ quan nội tạng của mẹ như tim, gan, thận và thậm chí có thể dẫn đến các biến chứng nguy hiểm đến tính mạng. Huyết áp quá cao có thể khiến chảy máu não (đột quỵ do xuất huyết não). Huyết áp trong não cao có thể gây co giật và hôn mê. Khoảng 1/200 thai phụ bị tiền sản giật nếu không được điều trị và có thể tiến triển đến tình trạng sản giật. Sản giật có thể tiến triển mà không có bất kì dấu hiệu gì rõ ràng của tiền sản giật.
Biến chứng của tiền sản giật
Ước tính khoảng từ 10–20% phụ nữ mang thai bị tiền sản giật nặng tiến triển sang biến chứng nguy hiểm đến tính mạng được gọi là hội chứng HELLP với các biểu hiện như tán huyết, enzyme trong gan tăng cao và giảm tiểu cầu.

Nguồn: ihope
Tiền sản giật mức độ nặng có thể ảnh hưởng đến thai bởi vì dòng máu suy yếu và chứa ít oxy có thể gây ra các vấn đề liên quan đến thai phát triển không tốt hoặc thậm chí là thai chết lưu. Trẻ sinh non do tiền sản giật có thể gặp các biến chứng liên quan đến suy dinh dưỡng, các vấn đề hô hấp do phổi kém phát triển.
Phụ nữ bị tiền sản giật có nguy cơ bị bệnh tim và đột quỵ cao gấp hai lần so với bình thường. Các nhà nghiên cứu cho rằng tiền sản giật, bệnh tim và đột quỵ có thể do cùng các nhân tố rủi ro phổ biến. Nếu có sẵn bệnh nền như béo phì, cao huyết áp, bệnh tim, tiểu đường hoặc bệnh thận, phụ nữ có nguy cơ cao bị tiền sản giật khi mang thai. Tiền sản giật thường xảy ra đối với phụ nữ sinh lần đầu, dù vậy nó cũng có thể xuất hiện trong các lần sinh tiếp theo, đặc biệt đối với những người có sẵn bệnh nền.
Nguyên nhân gây ra tiền sản giật
Các nguyên nhân cụ thể gây ra tiền sản giật hiện vẫn chưa rõ ràng. Khi mang thai, lượng máu mẹ thường tăng lên để nuôi dưỡng thai nhi, cơ thể mẹ cũng điều chỉnh để xử lí các chất lỏng dư thừa. Trên một số phụ nữ, cơ thể không phản ứng với các thay đổi về chất lỏng như bình thường nên họ sẽ biểu hiện các triệu chứng và dấu hiệu của tiền sản giật.

Nguồn: ihope
Nguyên nhân gây ra các phản ứng bất thường với những thay đổi trong thai kì khác nhau trong từng trường hợp và phụ thuộc vào giai đoạn mang thai lúc tiền sản giật xảy ra. Các nghiên cứu cho rằng tiền sản giật liên quan đến vấn đề trong dây rốn liên kết nguồn máu mẹ và thai nhi. Nếu không có đủ liên kết giữa dây rốn với động mạch của tử cung, không có đủ máu cho thai. Dây rốn phản ứng lại bằng cách giải phóng một loạt các hợp chất tác động đến thành mạch máu. Bằng cơ chế nào đó, các mạch máu của mẹ co lại một cách bất thường rồi gây ra hiện tượng cao huyết áp. Mạch máu co lại cũng tác động đến các cơ quan khác, từ đó các biểu hiệu và triệu chứng của tiền sản giật khởi phát. Trong thận, mạch máu co lại rồi giải phóng các protein bất thường vào nước tiểu.
Các nhà khoa học đang nghiên cứu liệu các biến thể trong gen có tham gia vào quá trình cân bằng chất lỏng bên trong hay không, hoạt động chức năng của nội mạc thành máu hoặc sự phát triển của dây rốn ảnh hưởng đến nguy cơ phát triển tiền sản giật hoặc tiến triển đến các mức độ trầm trọng hơn. Các gen không rõ chức năng trong thai kì cũng liên quan đến nguy cơ tiền sản giật.
Rất nhiều các yếu tố khác cũng có thể tương tác với các nhân tố di truyền để cùng đóng góp vào nguy cơ phát triển tiền sản giật. Những nguy cơ bao gồm mang đa thai, thai phụ trên 35 tuổi hoặc nhỏ hơn 20 tuổi và các vấn đề sức khỏe đã có từ trước. Tình trạng kinh tế, sắc tộc, dinh dưỡng và môi trường cũng góp phần. Tỉ lệ bị tiền sản giật tại nước Mỹ tăng 30% trong những năm gần đây, nguyên nhân do gia tăng số lượng bà mẹ mang thai lớn tuổi, tỉ lệ bị tăng huyết áp và béo phì tăng cao, số ca áp dụng các kĩ thuật hỗ trợ sinh sản tăng lên.
Phòng ngừa
Có rất nhiều trường hợp phụ nữ bị tiền sản giật không rõ về bệnh sử trong gia đình, những trường hợp này dường như không phải do di truyền. Một vài gia đình có người bị tiền sản giật, tuy nhiên dạng di truyền vẫn chưa rõ ràng. Xu hướng phát triển tiền sản giật có thể bị tác động bởi các biến thể di truyền do cha hoặc mẹ mang và các thể di truyền của đứa trẻ chưa được sinh cũng có thể giữ một vai trò nhất định.
Hiện nay, chưa có cách nào chắc chắn để ngăn ngừa tiền sản giật.
- Nếu thấy có nguy cơ cao bị tiền sản giật, bác sĩ có thể đề nghị dùng aspirin (81 mg) mỗi ngày vào cuối quí đầu tiên hoặc đầu quí thứ hai của thai kì. Tuy nhiên, thai phụ KHÔNG dùng aspirin trước khi hỏi ý kiến bác sĩ.
- Nếu lượng canxi thấp, bác sĩ có thể đề nghị bổ sung canxi hàng ngày.
- Chưa có biện pháp phòng ngừa cụ thể nào khác cho tiền sản giật.

Nguồn: ihope
Điều quan trọng là tất cả phụ nữ mang thai phải bắt đầu chăm sóc trước khi sinh sớm và tiếp tục chăm sóc trong suốt thai kì và sau khi sinh.
Lời kết
Tiền sản giật là một biến chứng nguy hiểm trong thai kì với tỉ lệ ngày càng gia tăng. Nếu không được theo dõi chặt chẽ, tiền sản giật có thể dẫn đến nhiều biến chứng nghiêm trọng cho cả mẹ và thai nhi. Vì vậy, tất cả thai phụ đều nên trang bị kiến thức đầy đủ về biến chứng nguy hiểm này để có biện pháp phòng ngừa một cách chủ động cho sức khỏe của thai nhi. Hơn nữa, sản phụ nên thăm khám định kì, tuân thủ hướng dẫn của bác sĩ để có một thai kì khỏe mạnh.
References
- Genetic Testing Information. Preeclampsia. Retrieved October 28, 2020 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/gtr/conditions/C0032914/
- Catalog of Genes and Diseases from OMIM. PREECLAMPSIA/ECLAMPSIA 1. Retrieved October 28, 2020 from https://omim.org/entry/189800
- U.S National Library of Medicine. Preeclampsia. Retrieved October 28, 2020 from https://medlineplus.gov/ency/article/000898.htm
- U.S National Library of Medicine. Preeclampsia. Retrieved October 28, 2020 from https://medlineplus.gov/genetics/condition/preeclampsia/
- Eunice Kennedy Shriver National Institute of Child Health and Human Development. What are the treatments for preeclampsia, eclampsia, & HELLP syndrome? Retrieved October 28, 2020 from https://www.nichd.nih.gov/health/topics/preeclampsia/conditioninfo/treatments
- Eunice Kennedy Shriver National Institute of Child Health and Human Development. Who is at risk of preeclampsia? Retrieved October 28, 2020 from https://www.nichd.nih.gov/health/topics/preeclampsia/conditioninfo/risk
