Ung thư là một nhóm bệnh có nguyên nhân vô cùng phức tạp phức tạp; bệnh có thể xảy ra tại bất kì độ tuổi nào, ngay cả giai đoạn thai kì. Phần lớn ung thư không ảnh hưởng đến thai nhi, tuy nhiên bệnh khó được chẩn đoán cũng như phương pháp điều trị có thể gây nguy hiểm cho em bé. Trong đó, ung thư vú là loại phổ biến với tỉ lệ mắc bệnh khoảng 1/3.000 thai phụ. Ngoài ra, mẹ bầu có thể mắc các bệnh ung thư khác như ung thư cổ tử cung, ung thư tuyến giáp, ung thư ruột kết và ung thư buồng trứng, ung thư hắc tố, ung thư hạch và bệnh bạch cầu. Các triệu chứng và biểu hiện giống như ung thư trên người bình thường.
Độ phổ biến
Ung thư khi mang thai hiếm khi xảy ra, tỉ lệ ước tính khoảng 1/1.000 thai phụ mỗi năm, tương ứng với 0,07% đến 0,1% tổng số ca bệnh.
Những loại ung thư phổ biến nhất trong thai kì được sắp xếp tỉ lệ giảm dần như sau:
- Ung thư vú
- Ung thư cổ tử cung
- U lympho
- Bệnh bạch cầu
Tuy nhiên, số liệu này có thể chưa phản ánh đúng với thực tế, bởi vì vẫn còn nhiều hạn chế và khó khăn trong công tác chẩn đoán và thống kê.
Thách thức trong chẩn đoán
Mang thai có thể khiến ung thư khó được chẩn đoán. Chẳng hạn trong thai kì, nồng độ hormone của cơ thể thay đổi khiến ngực trở nên to và sần sùi, do đó bệnh nhân khó phát hiện khối u cho đến khi chúng phát triển đủ lớn. Xuất huyết hậu môn dẫn đến khó phân biệt ung thư trực tràng, ung thư ruột kết và trĩ thai kì. Ngoài ra, biểu hiện buồn nôn, chán ăn, mệt mỏi cũng phổ biến khi mang thai. Vì vậy, phần lớn các trường hợp ung thư khi mang thai được phát hiện tại giai đoạn muộn hơn so với người bình thường.
Đa phần trường hợp ung thư trong thai kì được phát hiện thông qua các đợt kiểm tra sức khỏe định kì. Một số phương pháp chẩn đoán hình ảnh an toàn cho người mang thai bao gồm X-quang, MRI, siêu âm. Những phương pháp này cho kết quả hình ảnh khối u chính xác, lượng phóng xạ phát ra rất ít, nên thai nhi không bị ảnh hưởng.

Nguồn: National Cancer Institute
Chụp cắt lớp vi tính (CT) có thể cho thấy chính xác hình ảnh khối u và di căn, tuy nhiên bức xạ cao có thể ảnh hưởng xấu đến thai nhi. Do đó, CT được dùng cho các vùng xa bào thai như đầu hay ngực; ngoài ra mẹ cần tấm chắn bảo vệ vùng bụng. CT bụng và vùng chậu chỉ nên được thực hiện khi không còn lựa chọn khác. Bệnh nhân cần trao đổi với bác sĩ về mức độ cần thiết cũng như rủi ro của phương pháp này.

Nguồn: Radiology Key Fastest Radiology Insight Engine
Sinh thiết kim có thể được chỉ định. Bệnh nhân được lấy một mẫu mô khối u bằng kim dưới sự hỗ trợ của siêu âm và gây tê tại chỗ. Sau đó, mẫu mô được xét nghiệm để chẩn đoán ung thư. Phương pháp này tương đối an toàn cho thai nhi. Tuy nhiên, nếu kim không tiếp cận được khối u nằm sâu trong cơ thể, sinh thiết phẫu thuật cần được cân nhắc kĩ lưỡng. Sinh thiết phẫu thuật thường được thực hiện bằng cách thu nhận mẫu mô khối u qua một vết mổ. Phương pháp này cần gây mê toàn thân và có một phần rủi ro đối với thai nhi, do đó, bệnh nhân chỉ nên thực hiện khi thai đủ 3 tháng trở lên.

Nguồn: Mayoclinic
Phơi nhiễm phóng xạ ion hóa trong tử cung có thể dẫn đến trường hợp thai nhi phát triển bất thường, chậm tăng trưởng hoặc thiểu năng trí tuệ thậm chí tử vong trong trưởng hợp nghiêm trọng.
Phơi nhiễm trong tuần thứ 2 đến tuần thứ 8 của thai kì (giai đoạn phát triển cơ quan) gây ra nguy cơ cao dị tật. Tuy nhiên, một số mô của thai vẫn tiếp tục phát triển, đặc biệt hệ thần kinh trung ương. Do đó, bức xạ ion hóa tiếp xúc với em bé có thể dẫn đến suy giảm nhận thức ngay cả trong giai đoạn cuối của thai kì.
Phương pháp xét nghiệm hình ảnh không phóng xạ (chụp cộng hưởng từ MRI và siêu âm) được ưu tiên nhằm tránh tác động bức xạ, mặc dù mức độ nguy hiểm của những phương pháp khác rất thấp.
Ngoài ra, trong các thí nghiệm trên động vật, chất tương phản Gadolineum thường được dùng trong MRI có khả năng đi qua bánh nhau rồi gây dị tật. Chất tương phản iod cũng có thể tuần hoàn qua nhau thai nhưng không gây dị tật. Tuy nhiên, cả hai chất này đều không được chỉ định cho thai phụ.
Điều trị
Nhiều nghiên cứu cho thấy hiệu quả điều trị ung thư giữa người mang thai và người bình thường là như nhau. Liệu pháp điều trị được lựa chọn dựa trên tuổi thai, loại ung thư và tình trạng sức khỏe của mẹ. Thông thường, quá trình điều trị được trì hoãn đến khi thai đủ 3 tháng tuổi; nếu ung thư được chẩn đoán vào cuối thai kì, thai phụ có thể được điều trị sau khi sinh.
Một số phương pháp điều trị có thể áp dụng bao gồm:
- Phẫu thuật: phương pháp điều trị an toàn nhất với bất kì tuần thai
- Hóa trị: an toàn khi thai đủ 3 tháng
- Xạ trị: an toàn tại những vùng xa thai nhi như đầu, cổ, tay, chân
Chấm dứt thai kì thường không được khuyến nghị. Tuy nhiên, nếu ung thư gây nguy hiểm đến sức khỏe của mẹ và bé, đình chỉ thai sẽ được cân nhắc.
Lưu ý trong điều trị
Đối với phẫu thuật, khả năng mẹ tử vong và dị tật thai nhi không xảy ra. Tuy nhiên, nguy cơ sẩy thai tăng lên từ 1–2%, đặc biệt trong 3 tháng đầu. Khả năng sinh con nhẹ cân và sinh non tăng gấp 1,5–2 lần so với bình thường. Ngoài ra, các thủ thuật tái tạo và thẩm mỹ nên trì hoãn cho đến sau sinh.
Thông thường, liều lượng xạ trị khoảng 40–70 Gys. Mức độ này tương đối cao và có thể gây hại. Do đó, xạ trị thường được sử dụng sau sinh. Tuy nhiên, những trường hợp khẩn cấp cần điều trị trước sinh bao gồm chèn ép tủy sống, di căn thần kinh trung ương, hội chứng tĩnh mạch chủ trên hoặc trì hoãn thời gian làm giảm hiệu quả điều trị. Mức độ gây hại phụ thuộc vào tổng liều bức xạ, khoảng cách khối u đến thai nhi, bức xạ tán xạ vào cơ thể mẹ.
Đối với hóa trị liệu, phân tử lượng các chất được sử dụng thường thấp và dễ dàng đi qua nhau thai. Phần lớn các chất hóa trị được cho rằng có khả năng gây dị tật thai theo các nghiên cứu trên động vật. Tuổi thai là yếu tố quan trọng dưới tác dụng của thuốc. Thuốc tiếp xúc với phôi khiến quá trình làm tổ khó khăn, nên thai có thể bị sẩy. Nguy cơ dị tật thai cao nhất trong giai đoạn hình thành cơ quan (tuần thứ 2 đến tuần thứ 8).
Lời kết
Ung thư khi mang thai thường khó được chẩn đoán sớm do biểu hiện bệnh dễ bị lất át bởi các thay đổi của cơ thể người mẹ trong thai kì. Quá trình chẩn đoán và điều trị cũng gặp nhiều khó khăn vì giới hạn kĩ thuật cũng như những tác động không mong muốn đến thai nhi. Thai phụ cần thăm khám thai định kì và chú ý các biểu hiện bất thường để phát hiện bệnh giai đoạn sớm.
References
- National Library of Medicine. Cancer During Pregnancy: The Oncologist Overview. Retrieved April 26, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC6396773/
- National Library of Medicine. ancer during Pregnancy: A Review of Preclinical and Clinical Transplacental Transfer of Anticancer Agents. Retrieved April 26, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC8000411/
- American Cancer Society. Cancer During Pregnancy. Retrieved April 26, 2024 from https://www.cancer.org/cancer/managing-cancer/making-treatment-decisions/cancer-during-pregnancy.html
- National Library of Medicine. Cancer During Pregnancy: How to Handle the Bioethical Dilemmas?—A Scoping Review With Paradigmatic Cases-Based Analysis. Retrieved April 26, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC7787159/
- Cancer.Net Cancer During Pregnancy. Retrieved April 26, 2024 from https://www.cancer.net/navigating-cancer-care/dating-sex-and-reproduction/cancer-during-pregnancy
- National Library of Medicine. Cancer and Pregnancy: A Comprehensive Review. Retrieved April 26, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC8234287/
- National Library of Medicine. Cancer during pregnancy: Twenty‐two years of experience from a tertiary referral center. Retrieved April 26, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC10993340/
- National Library of Medicine. Cervical cancer in pregnancy. Retrieved April 26, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC10281765/
- MSD Manuals. Cancer During Pregnancy. Retrieved April 26, 2024 from https://www.msdmanuals.com/home/women-s-health-issues/pregnancy-complicated-by-disease/cancer-during-pregnancy
