• Skip to primary navigation
  • Skip to main content
  • Skip to footer
  • Hà Nội
  • TPHCM
  • Đà Nẵng
  • Sàng lọc thai NIPT
  • Chẩn đoán ung thư
  • Sàng lọc gen lặn
  • Chẩn đoán di truyền
  • Hà Nội
  • TPHCM
  • Đà Nẵng
  • Zalo
  • Facetime
  • Viber
  • Web chat
  • Gọi
  • Zalo
  • Dịch vụ
  • Địa chỉ
  • Đặt hẹn

Trung tâm xét nghiệm ihope

  • Xét nghiệm
    • Sàng lọc thai NIPT

      Phát hiện sớm hội chứng Down

    • Chẩn đoán ung thư

      Hỗ trợ điều trị trúng đích và miễn dịch

    • Sàng lọc gen lặn

      Phát hiện sớm các bệnh di truyền

    • Chẩn đoán di truyền

      Bệnh di truyền ở trẻ em và người lớn

    • Hợp tác
  • Thư viện
  • Hỗ trợ
  • Liên hệ
  • Xét nghiệm
    • Sàng lọc thai NIPT
    • Chẩn đoán ung thư
    • Sàng lọc gen lặn
    • Chẩn đoán di truyền
  • Links
    • Hỗ trợ
    • Liên hệ
    • Hợp tác
    • Thư viện
  • Gọi ngay
Thư viện Sức khỏeBệnh lây nhiễm

Bệnh sốt xuất huyết do virus Marburg

15/08/202218/04/2023
Bệnh sốt xuất huyết virus Marburg

Virus Marburg là tác nhân gây ra bệnh sốt xuất huyết nhưng không cùng họ với virus Dengue. Dengue thuộc họ virus Flaviviridae gây bệnh sốt xuất huyết thông thường, virus được truyền từ người sang người thông qua muỗi vằn. Dengue được xếp vào “nhóm nguy cơ số 2”.

Virus Marburg thuộc họ Filoviridae (giống virus Ebola) xếp vào nhóm nguy cơ cao nhất – số 4, do tỷ lệ tử vong có thể lên tới 88% nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.

Lịch sử bệnh

Năm 1967, hai đợt bùng phát lớn xảy ra đồng thời ở Marburg và Frankfurt nước Đức và thủ đô Belgrade của Serbia. Nguyên nhân bùng phát có liên quan đến công trình thí nghiệm sử dụng khỉ xanh châu Phi (Cercopithecus aethiops) nhập khẩu từ Uganda. Sau đó, các vụ bùng phát và những trường hợp đơn lẻ đã được báo cáo ở Angola, Cộng hòa Dân chủ Congo, Kenya, Nam Phi và Uganda.

Năm 2008, hai ca bệnh độc lập đã được báo cáo. Họ là những du khách đến thăm hang động ở Uganda có bầy dơi Rousettus.

Vào ngày 28 tháng 6 năm 2022, hai trường hợp nghi ngờ mắc sốt xuất huyết do virus đã được thông báo cho cơ quan y tế ở vùng Ashanti, Ghana. Kết quả xét nghiệm dương tính với virus Marburg được công bố vào ngày 12 tháng 7. Hiện nay chưa rõ nguồn lây. Điều tra sơ bộ cho thấy cả hai trường hợp này đều không có tiền sử tiếp xúc các yếu tố nguy cơ gây bệnh trong vòng ba tuần kể từ khi các triệu chứng khởi phát. Cả hai trường hợp đều là nông dân, họ làm việc ở các địa điểm khác nhau và không có mối liên hệ về mặt dịch tễ học. Tuy nhiên, cả hai trường hợp đều đến từ các cộng đồng sống trong rừng.

Vi rút Marburg ở Ghana 20 tháng 7 năm 2022
Ảnh: Khu vực của hai trường hợp xác nhận nhiễm vi rút Marburg được báo cáo ở Ghana, tính đến ngày 20 tháng 7 năm 2022
Nguồn: World Health Organization

Vật chủ ký sinh

Dơi Rousettus aegyptiacus là vật chủ tự nhiên của virus Marburg, không có bệnh rõ ràng ở dơi ăn quả. Do đó, sự phân bố địa lý của vi rút Marburg có thể trùng lặp với phạm vi của dơi Rousettus.

phan-bo-dia-ly-cua-loai-doi-an-qua-va-cac-ca-benh-ghi-nhan
Ảnh: Phân bố địa lý của loài dơi ăn quả và các ca bệnh ghi nhận trên thế giới
Nguồn: World Health Organization
Geographic-distribution-of-Marburg-haemorrhagic-fever-outbreaks-and-fruit-bats-of-Pteropodidae-Family
Ảnh: Phân bố địa lý của loài dơi ăn quả và các ca bệnh ghi nhận trên thế giới
Nguồn: World Health Organization

Khỉ xanh châu Phi (Cercopithecus aethiops) nhập khẩu từ Uganda là nguồn lây bệnh cho người trong đợt bùng phát Marburg đầu tiên.

Người ta đã tiến hành cấy các loại virus Ebola khác nhau vào lợn và kết quả cho thấy lợn dễ bị nhiễm và khuếch filovirus. Do đó, các trang trại chăn nuôi cần có các biện pháp phòng ngừa phù hợp nhằm hạn chế tiếp xúc giữa lợn và dơi ăn quả. Chưa ghi nhận mối liên quan giữa filovirus với các loài động vật khác, tuy nhiên các loài vật nuôi cũng cần được chú ý.

Con đường lây truyền

Người nhiễm virus Murburg do tiếp xúc lâu dài với các mỏ hoặc hang động nơi sinh sống của các đàn dơi Rousettus.

Virus có thể truyền từ người sang người thông qua tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết, máu, mô, chất thải của người bệnh hoặc đồ dùng bị nhiễm virus.

Nhân viên y tế là một trong những đối tượng có nguy cơ lây nhiễm hàng đầu do mức độ tiếp xúc với tác nhân gây bệnh cao. Lây nhiễm bệnh qua vết kim đâm hoặc thiết bị tiêm nhiễm không vô trùng có thể làm bệnh nặng, suy giảm nhanh chóng và tỷ lệ tử vong cao hơn.

Các nghi lễ mai táng liên quan tiếp xúc trực tiếp với thi thể người chết cũng có thể góp phần lây truyền virus Murburg do virus vẫn tồn tại trong máu. Cần có biện pháp phòng ngừa và cung cấp thiết bị bảo hộ cần thiết khác.

Biểu hiện lâm sàng

Thời gian ủ bệnh (từ lúc nhiễm virus cho đến khi biểu hiện triệu chứng đầu tiên) khoảng 2-21 ngày.

Bệnh khởi phát đột ngột với biểu hiện sốt cao, nhức đầu dữ dội và mệt mỏi. Hầu hết người bệnh đau nhức cơ bắp. Ngày thứ ba, người bệnh có thể bị đau bụng, chuột rút và tiêu chảy kéo dài trong một tuần. Bệnh nhân có vẻ ngoài nhợt nhạt, đôi mắt sâu, khuôn mặt vô cảm. Trong đợt bùng dịch năm 1967, hầu hết các ca bệnh ghi nhận bệnh nhân phát ban nhưng không ngứa khoảng từ 2-7 ngày sau khi khởi phát triệu chứng.

Nhiều bệnh nhân xuất hiện các biểu hiện xuất huyết nghiêm trọng từ 5-7 ngày và các trường hợp tử vong thường xuất huyết từ nhiều vùng. Máu tươi trong chất nôn và phân, kèm theo chảy máu mũi, lợi và âm đạo. Chảy máu tự phát tại các vị trí chọc dò (nơi có đường vào tĩnh mạch để truyền dịch hoặc lấy mẫu máu). Trong giai đoạn bệnh nặng, bệnh nhân sốt cao liên tục. Hệ thần kinh trung ương có thể khiến người bệnh cáu kỉnh, khó chịu. Một số trường hợp viêm tinh hoàn (viêm một hoặc cả hai tinh hoàn) ở giai đoạn cuối của bệnh (khoảng ngày thứ 15).

Trường hợp bệnh nhân tử vong thường xảy ra trong khoảng ngày thứ 8-9 sau khi khởi phát bệnh (trước giai đoạn mất máu nghiêm trọng và sốc).

Chẩn đoán

Bệnh xuất huyết Marburg rất khó chẩn đoán phân biệt với các bệnh truyền nhiễm khác như sốt rét, sốt thương hàn, bệnh nhiễm khuẩn shigella, viêm màng não và các bệnh sốt xuất huyết do virus khác.

Một số phương pháp chẩn đoán bệnh do nhiễm virus Marburg như sau:

  • Xét nghiệm hấp thụ miễn dịch liên kết với enzym bắt kháng thể (ELISA)
  • Xét nghiệm phát hiện bắt giữ kháng nguyên
  • Xét nghiệm trung hòa huyết thanh
  • Xét nghiệm phản ứng chuỗi polymerase phiên mã ngược (RT-PCR)
  • Phân lập vi rút bằng nuôi cấy tế bào

Điều trị

Hiện nay chưa có vaccine hoặc phương pháp điều trị kháng virus nào được phê duyệt đối với bệnh do virus Marburg gây ra. Tuy nhiên, các biện pháp chăm sóc hỗ trợ như bù nước, cung cấp chất điện giải hoặc dịch truyền tĩnh mạch, kèm theo điều trị các triệu chứng cụ thể sẽ giúp cải thiện tình hình.

Một số kháng thể đơn dòng và kháng virus đang được nghiên cứu và phát triển.

Sau khi điều trị khỏi bệnh do virus Marburg gây ra, virus vẫn có thể tồn tại trong cơ thể:

  • Ở phụ nữ mang thai, virus tồn tại trong nhau thai, nước ối và thai nhi.
  • Ở phụ nữ đang cho con bú, virus có thể tồn tại trong sữa mẹ.

Một số trường hợp hiếm gặp, người bệnh đã được điều trị nhưng vẫn có triệu chứng tái phát. Người ta vẫn chưa hiểu rõ hiện tượng này.

Trong 7 tuần sau quá trình hồi phục lâm sàng, virus có thể lây truyền qua tinh dịch. Dựa vào các nghiên cứu hiện tại, WHO khuyến nghị rằng:

  • Nam giới sau khi khỏi bệnh cần thực hiện xét nghiệm tinh dịch đồ trong vòng ba tháng kể từ khi khởi phát bệnh.
  • Người bệnh sau khi điều trị khỏi bệnh và bạn tình của họ cần được tư vấn, đảm bảo thực hiện tình dục an toàn cho đến khi tinh dịch của họ có hai lần xét nghiệm âm tính virus Marburg.
  • Nên rửa tay với xà phòng và nước ngay lập tức và kỹ lưỡng sau khi tiếp xúc vật lý với tinh dịch.

Phòng ngừa

Công tác kiểm soát ổ dịch tốt dựa vào các biện pháp can thiệp, cụ thể là nâng cao chất lượng cơ sở y tế và phòng thí nghiệm, giám sát và theo dõi tiếp xúc, quy trình chôn cất trang nghiêm và an toàn.

Nâng cao nhận thức về các yếu tố nguy cơ lây nhiễm Marburg và các biện pháp bảo vệ cá nhân là một cách hiệu quả để giảm lây truyền bệnh cho người.

  • Trong các hoạt động làm việc, nghiên cứu hoặc thăm quan du lịch tại các mỏ, hang động nơi sinh sống của các đàn dơi ăn quả, người tham gia nên đeo găng tay và quần áo bảo hộ thích hợp khác (bao gồm cả khẩu trang).
  • Tất cả các sản phẩm động vật phải được nấu chín kỹ trước khi ăn. Tránh tiếp xúc gần với người bệnh. Khi chăm sóc bệnh nhân tại nhà cần mang găng tay và các phương tiện bảo hộ cá nhân thích hợp. Rửa tay thường xuyên sau khi đi thăm người bệnh, cũng như sau khi chăm sóc người bệnh tại nhà.
  • Các địa điểm bùng dịch cần được quan tâm và hỗ trợ y tế, lương thực – thực phẩm kịp thời.
  • Các biện pháp ngăn chặn ổ dịch bao gồm chôn cất nhanh chóng, an toàn và trang nghiêm người đã khuất, xác định những người có thể đã tiếp xúc với người bệnh, tiến hành cách li và theo dõi sức khỏe trong 21 ngày.
  • Giảm nguy cơ lây truyền qua đường tình dục. Dựa trên những phân tích chuyên sâu, WHO khuyến cáo nam giới sau khi đã khỏi bệnh nên quan hệ tình dục và vệ sinh an toàn hơn trong 12 tháng kể từ khi bắt đầu có triệu chứng hoặc cho đến khi tinh dịch hai lần xét nghiệm âm tính với vi rút Marburg. Cần tránh tiếp xúc với chất lỏng của cơ thể, nên rửa bằng xà phòng và nước.

References

  1. World Health Organization. Marburg virus disease. Retrieved Aug 8, 2022 from https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/marburg-virus-disease
  2. Centers for Disease Control and Prevention. Marburg virus disease. Retrieved Aug 8, 2022 from https://www.cdc.gov/vhf/marburg/outbreaks/chronology.html
  3. World Health Organization. Marburg virus disease. Retrieved Aug 8, 2022 from https://www.who.int/health-topics/marburg-virus-disease
  4. Merck Manual. Marburg and Ebola Virus Infections. Retrieved Aug 8, 2022 from https://www.merckmanuals.com/professional/infectious-diseases/arboviruses,-arenaviridae,-and-filoviridae/marburg-and-ebola-virus-infections

Filed Under: Bệnh lây nhiễm

Bệnh đậu mùa khỉ
Bệnh lao

Related posts

  • Bệnh đậu mùa khỉ

    Bệnh lây nhiễm
  • Các tác nhân gây ung thư

    Phòng ngừa ung thư
  • 5 loại virus gây ung thư phổ biến

    Phòng ngừa ung thư
  • HPV lây qua đường miệng

    Bệnh lây nhiễm
  • Mụn cóc sinh dục – Nguyên nhân và cách điều trị

    Ung thư cổ tử cung
  • Sống lâu có phải do di truyền?

    Gen và biểu hiện tính trạng

Footer

  • Xét nghiệm

    • Sàng lọc thai NIPT
    • Chẩn đoán ung thư
    • Sàng lọc sơ sinh
    • Sàng lọc gen lặn
    • Bệnh di truyền
  • Giới thiệu

    • Về chúng tôi
    • Công nghệ
    • Thư viện
    • Hợp tác
  • Hỗ trợ

    • Hỏi đáp
    • Bảo hành
    • Chính sách
  • Liên hệ

    • +84968911884
    • [email protected]
    • Địa chỉ