Gen HLA-B nằm trên nhiễm sắc thể 6, cung cấp hướng dẫn tạo ra một protein quan trọng với hệ miễn dịch. HLA-B là một phần của họ gen phức hợp kháng nguyên bạch cầu người (HLA). Phức hợp HLA giúp hệ miễn dịch phân biệt protein của chính cơ thể với protein từ các tác nhân xâm lược lạ như virus và vi khuẩn.
Chức năng chính
HLA là phiên bản của phức hợp tương hợp mô chính (MHC) trên con người. Họ gen MHC tồn tại trên nhiều loài, bao gồm con người. Chúng bao gồm ba nhóm cơ bản là lớp I, lớp II và lớp III. Trên người, gen HLA-B cùng với hai gen khác gồm HLA-A và HLA-C là những gen chính trong nhóm MHC lớp I.
Gen MHC lớp I cung cấp hướng dẫn tạo ra protein MHC lớp I hiện diện trên bề mặt phần lớn các tế bào trong cơ thể. Trên bề mặt tế bào, protein này liên kết với các mảnh peptide do tế bào giải phóng. Liên kết này giúp protein MHC lớp I hiển thị các mảnh peptide cho hệ miễn dịch. Nếu hệ miễn dịch nhận diện các peptide này là tác nhân lạ (ví dụ peptide của virus hoặc vi khuẩn), cơ thể sẽ phản ứng bằng cách kích hoạt tế bào miễn dịch tấn công tác nhân này.
Gen HLA-B có nhiều biến thể, do đó chúng có thể sản xuất các protein khác nhau. Mức độ đa dạng này của gen HLA-B cho phép hệ miễn dịch của con người phản ứng với nhiều tác nhân xâm lược lạ. Các biến thể này không ảnh hưởng đến chức năng hoặc làm thay đổi cấu trúc của protein MHC lớp I. Người ta đã phát hiện hàng trăm biến thể của gen HLA-B, mỗi biến thể đều được đánh số cụ thể (ví dụ như HLA-B27). Các biến thể có mối liên hệ gần được phân loại cùng nhau. Ví dụ, người ta đã phân nhóm hơn 60 biến thể rất giống nhau của HLA-B27 thành HLA-B*2701 đến HLA-B*2763.
Đột biến gây bệnh
Viêm cột sống dính khớp
Người ta đã phát hiện biến thể HLA-B27 của gen HLA-B làm tăng khả năng hình thành viêm cột sống dính khớp của một người (ankylosing spondylitis). Người bệnh có biểu hiện viêm khớp mãn tính và đau dai dẳng, chủ yếu tại cột sống.
Người ta chưa rõ cơ chế gây bệnh cụ thể của HLA-B27, họ đưa ra một số giả thiết khác nhau về nguyên nhân gây bệnh. Người ta nhận thấy HLA-B27 có thể khiến các peptide kích hoạt phản ứng miễn dịch biểu hiện trên bề mặt tế bào, do đó chúng gây ra phản ứng viêm rồi dẫn đến bệnh viêm khớp. Nguyên nhân khác cho rằng viêm khớp xảy ra do protein HLA-B27 gấp cuộn không đúng cách hoặc hiện diện bất thường trên bề mặt tế bào. Tóm lại, HLA-B27 có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm cột sống dính khớp thông qua nhiều cơ chế kết hợp với yếu tố di truyền và môi trường của người bệnh.
Người bệnh viêm cột sống dính khớp thường có biến thể HLA-B27. Tuy nhiên, người ta ước tính có khoảng 1–5% người mang biến thể HLA-B27 bị viêm cột sống dính khớp, phần lớn những trường hợp còn lại không khởi phát bệnh. Vì vậy, các biến thể HLA-B khác cũng góp một phần nhỏ vào nguy cơ phát triển bệnh. Cụ thể, alen HLA-B47 và HLA-B51 góp phần làm tăng nguy cơ mắc bệnh, trong khi alen HLA-B7 và HLA-B57 có thể cung cấp khả năng nhỏ chống lại bệnh. Bên cạnh các biến thể của HLA-B, yếu tố di truyền, môi trường và nhiều yếu tố khác chưa được xác định cũng ảnh hưởng đến khả năng mắc bệnh cũng như tốc độ tiến triển viêm cột sống dính khớp.
Xem thêm Viêm cột sống dính khớpBệnh Behçet
Biến thể HLA-B51 làm tăng khả năng mắc bệnh Behçet (Behçet disease). Mối liên hệ này mạnh nhất đối với những người từ Nhật Bản, Trung Đông và các khu vực khác của Châu Á. Người bệnh có biểu hiện viêm nhiều bộ phận trên cơ thể, chủ yếu là các mạch máu nhỏ trong miệng, bộ phận sinh dục, da và mắt.
Người ta chưa rõ biến thể HLA-B51 làm tăng nguy cơ mắc bệnh như thế nào. Người mắc bệnh Behçet thường có biến thể HLA-B51. Tuy nhiên, phần lớn những người mang biến thể này không hình thành bệnh. Các yếu tố khác như nhiễm trùng do virus, vi khuẩn hoặc đột biến trên các gen khác cũng ảnh hưởng đến khả năng hình thành bệnh.
Viêm khớp tự phát thiếu niên
Viêm khớp vảy nến
Viêm khớp dạng thấp
Bệnh zona
Hội chứng Stevens-Johnson/Hoại tử biểu bì nhiễm độc
Một số biến thể của gen HLA-B làm tăng nguy cơ hình thành hội chứng Stevens-Johnson/Hoại tử biểu bì nhiễm độc (Stevens-Johnson syndrome/toxic epidermal necrolysis—SJS/TEN). SJS/TEN gây ra vết loét nghiêm trọng trên da và niêm mạc người bệnh. Tổn thương da làm bệnh nhân bị mất nước, nhiễm trùng, suy đa cơ quan và có thể nguy hiểm đến tính mạng.
SJS/TEN thường được kích hoạt khi người bệnh sử dụng thuốc. Ví dụ, biến thể HLA-B*1502 làm tăng nguy cơ mắc SJS/TEN đối với những người sử dụng thuốc carbamazepine. Biến thể gen này thường xuất hiện trên người Đông Nam Á. Một biến thể khác là HLA-B*5801 làm tăng nguy cơ mắc SJS/TEN đối với những người điều trị bằng allopurinol. Thuốc sllopurinol được sử dụng để điều trị sỏi thận và bệnh gút. Biến thể HLA-B*5801 phổ biến hơn trên quần thể người Đông Nam Á và Châu Á.
Người ta nhận thấy biến thể gen HLA-B liên quan đến SJS/TEN khiến hệ miễn dịch phản ứng bất thường với một số loại thuốc. Khi người bệnh sử dụng thuốc, thuốc kích hoạt tế bào T gây độc và tế bào giết tự nhiên (NK) giải phóng granulysin. Chất này phá hủy các tế bào trong da và niêm mạc, bao gồm niêm mạc miệng và đường hô hấp. Các tế bào này chết đi dẫn đến người bệnh có biểu hiện phồng rộp và bong tróc nghiêm trọng.
Tuy nhiên, phần lớn người mang biến thể gen HLA-B liên quan đến SJS/TEN không bao giờ khởi phát bệnh, ngay cả khi họ sử dụng thuốc có khả năng kích hoạt bệnh. Các yếu tố gồm yếu tố di truyền, môi trường và nhiều yếu tố khác chưa được xác định cũng ảnh hưởng đến khả năng một người có khởi phát bệnh SJS/TEN hay không.
Các vấn đề khác
Biến thể HLA-B27 gây ra nhóm các bệnh lí cột sống dính khớp. Một số bệnh thuộc nhóm này liên quan đến bệnh vẩy nến hoặc bệnh viêm ruột. Một trong những bệnh lí cột sống dính khớp phổ biến là viêm khớp phản ứng do nhiễm trùng vi khuẩn đường tiêu hóa hoặc đường sinh dục gây ra. Người bệnh có biểu hiện viêm khớp, đau lưng và viêm mắt. Tương tự như viêm cột sống dính khớp, nhiều yếu tố có thể góp phần hình thành viêm khớp phản ứng và các bệnh lí cột sống dính khớp khác.
Đối với người bệnh HIV, biến thể HLA-B*5701 làm cơ thể tăng độ mẫn cảm với thuốc abacavir. Thuốc abacavir làm chậm quá trình lây lan của virus HIV-1 trong cơ thể. Do đó, những người quá mẫn cảm với abacavir thường có biểu hiện sốt, ớn lạnh, phát ban, đau bụng và các triệu chứng khác khi điều trị bằng thuốc này.
Một số biến thể của gen HLA-B ảnh hưởng đến tốc độ tiến triển của bệnh HIV thành hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS). AIDS làm tổn thương hệ miễn dịch, chúng ngăn cản hệ miễn dịch bảo vệ cơ thể chống lại các bệnh nhiễm trùng. Các dấu hiệu và triệu chứng của AIDS thường xuất hiện sau khi người bệnh nhiễm HIV 5–15 năm. Người ta nhận thấy những người nhiễm HIV mang biến thể HLA-B27 hoặc HLA-B57 có xu hướng tiến triển AIDS chậm hơn bình thường. Ngược lại, người nhiễm HIV mang biến thể HLA-B35 có xu hướng phát triển các dấu hiệu và triệu chứng của AIDS nhanh hơn bình thường. Bên cạnh đó, các yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến quá trình tiến triển thành AIDS của người bệnh HIV.
Mặt khác, biến thể HLA-B53 của gen HLA-B đã được chứng minh có tác dụng bảo vệ chống lại bệnh sốt rét. Biến thể HLA-B53 phổ biến nhất tại các quần thể Tây Phi—nơi sốt rét là nguyên nhân gây tử vong thường xuyên trên trẻ em. Người ta nhận thấy biến thể HLA-B53 có thể giúp hệ miễn dịch phản ứng hiệu quả hơn với kí sinh trùng gây sốt rét.
Các tên gọi khác
- 1B07_HUMAN
- HLA class I histocompatibility antigen, B alpha chain
- leukocyte antigen B
- MHC class I HLA-B heavy chain
Tài liệu tham khảo
- Genetic Testing Information. HLA-B major histocompatibility complex, class I, B [Homo sapiens (human)]. Retrieved February 03, 2025 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/gene/3106/
- Catalog of Genes and Diseases from OMIM. MAJOR HISTOCOMPATIBILITY COMPLEX, CLASS I, B; HLA-B. Retrieved February 03, 2025 from https://omim.org/entry/142830
- National Library of Medicine. HLA-B gene. Retrieved February 03, 2025 from https://medlineplus.gov/genetics/gene/hla-b/