Nhiễm nấm Aspergillus hay còn gọi là bệnh aspergillosis do nhiều loại nấm mốc thuộc chi Aspergillus gây ra. Người mắc chứng suy giảm miễn dịch hoặc có có bệnh lí nền liên quan đến phổi thường xuất hiện nhiều triệu chứng nghiêm trọng.
Nấm Aspergillus
Aspergillus là loại nấm mốc có dạng sợi hiện diện nhiều trong đất, thực vật đang phân huỷ và các loại hạt. Trong môi trường, Aspergillus lấy dinh dưỡng từ vật chất hữu cơ chết và sinh sản vô tính bằng cách hình thành các bào tử. Hiện nay, người ta đã ghi nhận hơn 24 loài Aspergillus có khả năng gây bệnh cho người, trong đó Aspergillus fumigatus là nguyên nhân gây bệnh thường gặp nhất, tiếp theo là Aspergillus terreus và Aspergillus flavus.

Nguồn: Microbe Online
Aspergillus fumigatus (A. fumigatus) sống trong nhiều điều kiện môi trường khác nhau (khoảng 12–65°C) với nhiệt độ tối ưu là 37°C và độ pH 2,1–8,8 nên có thể tồn tại trong đường hô hấp của động vật có vú hoặc chim. Nấm A. fumigatus có kích thước nhỏ (2–3.5 µm) nên dễ vượt qua lớp nhầy và đi sâu vào đường hô hấp. Hơn nữa, melanin và acid sialic trong thành bào tử góp phần bảo vệ chúng khỏi các phản ứng của hệ miễn dịch cơ thể.

Nguồn: BioRender
Phần lớn những người khoẻ mạnh hít phải bào tử nấm Aspergillus đều không mắc bệnh nhờ vào khả năng đáp ứng miễn dịch của cơ thể. Trong đó, bạch cầu trung tính là tế bào miễn dịch quan trọng nhất trong cơ chế phòng vệ chống lại Aspergillus. Tuy nhiên, đối với người mắc chứng suy giảm miễn dịch hoặc có bệnh lí nền liên quan đến phổi, bệnh có nguy cơ tiến triển nặng hơn và có thể gây tử vong nếu không được điều trị kịp thời.
Phân loại
Các loại nấm Aspergillus có thể gây ra nhiều bệnh lí khác nhau như:
Aspergillosis xâm lấn
Aspergillosis xâm lấn chủ yếu xảy ra đối với người bị suy giảm miễn dịch do điều trị hoá trị, cấy ghép tuỷ xương hoặc các bệnh lí khác. Hệ miễn dịch hoạt động kém tạo điều kiện cho nấm phát triển mạnh mẽ và xâm nhập vào mô phổi, lan ra các cơ quan khác như não, tim, thận, da.

Nguồn: A.D.A.M.
Aspergillosis mạn tính
Bệnh xảy ra khi nấm phát triển trong khoang phổi của người mắc các bệnh phổi nền mạn tính như lao phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, giãn phế quản…
Aspergillosis dị ứng
Nấm kích thích hệ miễn dịch gây ra nhiều phản ứng dị ứng. Bệnh thường gặp đối với người mắc hen suyễn hoặc xơ nang.
Aspergillosis u phổi
Một số bệnh phổi mạn tính như hen suyễn, khí phế thủng, lao,… có thể tạo ra các khoang trống chứa khí trong phổi. Khi người bệnh nhiễm Aspergillus, nấm phát triển thành khối u nằm bên trong những khoang này.

Nguồn: A.D.A.M.
Con đường xâm nhiễm
Nấm Aspergillus có thể xâm nhập cơ thể thông qua nhiều con đường khác nhau như:
Hệ hô hấp
Bào tử nấm Aspergillus hiện diện khắp nơi trong môi trường, với mật độ khoảng 1–100 bào tử/m³ tùy thuộc vào không gian trong nhà hay ngoài trời, đặc biệt mật độ nấm thường tăng cao tại những nơi đất bị xáo trộn. Do đó, người bệnh có thể hít phải bào tử Aspergillus từ môi trường xung quanh, dẫn đến nhiễm nấm tại xoang mũi và phổi.
Não
Nấm Aspergillus có thể xâm nhập não theo đường máu trong trường hợp nấm đã lây lan đến hệ mạch máu. Mặt khác, nhiễm nấm tại các vùng lân cận não như xương chũm sau tai, tai giữa, hoặc xoang cạnh mũi cũng có thể dẫn đến nhiễm tại não.
Nhãn cầu
Người bệnh có thể nhiễm nấm Aspergillus trong nhãn cầu sau khi phẫu thuật đục thủy tinh thể, đeo kính áp tròng hoặc chấn thương mô giác mạc.
Xương
Nấm Aspergillus có thể xâm nhập xương do bệnh nhiễm trùng lan tỏa đối với bệnh nhân suy giảm miễn dịch nặng. Ngoài ra, nhiễm nấm trong xương cũng có thể xảy ra do nhiễm trùng sau phẫu thuật.
Da và móng
Người bệnh có thể nhiễm nấm Aspergillus qua da trong các trường hợp sau:
- Truyền tĩnh mạch
- Mắc bệnh viêm nhiễm da mạn tính
- Chấn thương hoặc bỏng
Ngoài ra, người ta cũng nghi nhận Aspergillus có thể gây nấm móng khi móng bị tổn thương, người bệnh mắc chứng suy giảm miễn dịch hoặc móng tiếp xúc với đất.
Các con đường khác
Nấm Aspergillus có thể gây bệnh bằng cách xâm nhiễm tại các vị trí khác trên cơ thể như:
- Nội mô mạch máu
- Nội tâm mạc
- Đường tiêu hóa
Cơ chế gây bệnh
Đối với người có hệ miễn dịch bình thường, bào tử Aspergillus sau khi đi vào phổi nhanh chóng bị loại bỏ nhờ vào bạch cầu trung tính, đại thực bào phế nang và tế bào biểu mô phổi. Cụ thể, khi bào tử nấm vào trong phổi, chúng phát triển thành sợi nấm. Khi đó, những protein tham gia cấu tạo thành tế bào nấm như β-D-glucan sẽ kích hoạt các phản ứng miễn dịch, dẫn đến hoạt hóa đại thực bào phế nang. Đại thực bào nuốt mầm bệnh vào bên trong, sau đó phân giải chúng nhờ vào enzyme nội bào—hiện tượng này gọi là thực bào. Đồng thời, cytokine sinh ra từ các phản ứng này thu hút bạch cầu trung tính. Những tế bào này tiêu diệt sợi nấm bằng cách giải phóng các gốc oxy phản ứng. Nhờ đó, hệ miễn dịch có thể kiểm soát nấm Aspergillus.
Tuy nhiên, nếu những hoạt động này suy yếu (thường do người bệnh mắc chứng suy giảm miễn dịch), nấm sẽ lan rộng và phát triển. Aspergillus đặc biệt nguy hiểm vì có khả năng xâm lấn mạch máu, thúc đẩy hình thành huyết khối và hoại tử mô, đồng thời dễ lan đến các cơ quan xa.
Những cơ chế gây bệnh chính của nấm Aspergillus bao gồm:
Độc tố mycotoxin
Độc tốc nấm (mycotoxin) là các chất chuyển hóa thứ cấp do nấm tiết ra, thường có độc tính mạnh.
Một số độc tố quan trọng của Aspergillus bao gồm:
- Aflatoxin: giảm khả năng thực bào nấm, giảm sản xuất các gốc oxy phản ứng
- Gliotoxin: giảm khả năng nhận diện và thực bào nấm, tăng tính kháng miễn dịch của nấm
- T2 toxin: giảm khả năng thực bào nấm của đại thực bào phế nang
- Verruculogen: biến đổi các tính chất điện–sinh lý của tế bào biểu mô nhằm tăng khả năng nấm bám vào và phát triển trong đường hô hấp
- Ochratoxin A: chưa rõ vai trò cụ thể

Nguồn: ScienceDirect
Chất gây dị ứng
Các loài Aspergillus thường gây dị ứng bao gồm A. fumigatus, A. niger, A. flavus và A. oryzae, trong đó A. fumigatus đã được xác định có hơn 25 loại chất dị ứng. Asp f1 là chất dị ứng chính của A. fumigatus, nó vừa gây độc tế bào vừa có thể phân hủy ARN—phân tử trung gian trong quá trình tổng hợp protein từ ADN. Những phản ứng dị ứng thường gặp nhất là viêm xoang và hen suyễn.
Hợp chất hữu cơ dễ bay hơi
Vi sinh vật có thể tạo ra nhiều hợp chất hữu cơ dễ bay hơi như rượu, aldehyde, ketone, ester, cũng như hợp chất chứa lưu huỳnh và nitơ. Chúng chủ yếu hình thành trong quá trình chuyển hóa sơ cấp (tổng hợp DNA, acid amin, acid béo). Các hợp chất này do nấm Aspergillus, đặc biệt là A. versicolor, A. fumigatus, A. sydowii, A. flavus, và A. niger sản xuất có thể dẫn đến những triệu chứng như đau đầu, giảm tập trung, chóng mặt, thường gặp nhất đối với người mắc hen suyễn.
Biểu hiện lâm sàng
Một số triệu chứng chung của những người nhiễm nấm Aspergillus bao gồm:
- Ho (có thể ho ra máu)
- Khó thở
- Thở khò khè
- Đau ngực
- Sốt
Người nhiễm nấm Aspergillus có thể sụt cân và cảm thấy mệt mỏi.
Ngoài ra, nấm lây lan đến các mỗi cơ quan gây ra nhiều triệu chứng khác nhau như:
- Mắt: đỏ, đau, giảm thị lực
- Xoang: nghẹt mũi, sổ mũi, đau đầu, giảm khả năng nhận biết mùi
- Da: đỏ, chai, có thể tiến triển thành các vết loét chuyển màu đen
- Não: tâm trạng thất thường, lú lẫn, co giật, suy nhược
- Dạ dày, ruột: đau bụng, tiêu chảy, táo bón
- Xoang, đường hô hấp, miệng, não: sốt, sưng một bên mặt, đau đầu, nghẹt mũi, đau mũi, dịch nhầy lẫn máu trong mũi, sụp mí mắt, mủ đen chảy từ miệng, mũi hoặc mắt
Các dạng nhiễm nấm Aspergillus đều có thể dẫn đến nhiều dạng tổn thương phổi như:
- Xơ phổi
- Giãn phế quản
- Xẹp phổi
Người nhiễm nấm dạng mạn tính hoặc xâm lấn có nguy cơ xuất hiện thêm các biến chứng sau:
- Nấm lan rộng và phá huỷ những cơ quan khác
- Suy hô hấp
- Nhiễm trùng huyết

Nguồn: Designua/Shutterstock.com
Chẩn đoán
Bác sĩ chẩn đoán người bệnh nhiễm nấm Aspergillus dựa trên tiền sử bệnh cá nhân, kết quả chẩn đoán hình ảnh cũng như một số xét nghiệm chuyên biệt.
Các phương pháp chẩn đoán nhiễm nấm Aspergillus bao gồm:
- Xét nghiệm dị ứng: thu mẫu máu hoặc da để kiểm tra có chất gây dị ứng của Aspergillus hay không
- Sinh thiết: thu mẫu mô hoặc dịch cơ thể nhằm xác định có nhiễm Aspergillus hay không
- Xét nghiệm máu: chẩn đoán sớm bệnh nhiễm Aspergillus mạn tính đối với người suy giảm miễn dịch nghiêm trọng
- Nuôi cấy vi sinh: mẫu máu, chất nhầy hoặc dịch trong phổi, não, tuỷ sống được thu nhận và nuôi cấy trên môi trường phù hợp với Aspergillus
- Xét nghiệm hình ảnh: chụp X-quang hoặc chụp cắt lớp vi tính (CT) nhằm xác định các dấu hiệu của Aspergillus tại vị trí nghi nhiễm
Điều trị
Bác sĩ chỉ định các phương pháp điều trị dựa trên dạng nhiễm và bệnh lí nền của người bệnh. Phẫu thuật và thuốc kháng nấm có thể điều trị một số bệnh nhiễm nấm Aspergillus không xâm lấn. Tuy nhiên, bệnh có thể tái phát trong một số trường hợp. Dạng nhiễm xâm lấn rẩt khó điều trị hoàn toàn.
Phẫu thuật
Phương pháp phẫu thuật loại bỏ vùng nhiễm nấm thường được chỉ định trong trường hợp u nấm, nhiễm nấm xâm lấn và dị ứng.
Thuốc kháng nấm
Thuốc kháng nấm có thể điều trị nhiều dạng nhiễm khác nhau. Nếu một loại thuốc không có hiệu quả, bác sĩ có thể kê đơn loại thuốc khác.
Một số thuốc kháng nấm Aspergillus bao gồm:
- Voriconazole, isavuconazole, posaconazole itraconazole
- Liposomal amphotericin B
- Caspofungin micafungin
Thuốc corticosteroid
Các loại thuốc corticosteroid như prednisone, prednisolone và methylprednisolone hỗ trợ giảm viêm. Bác sĩ thường kê đơn thuốc này nhằm điều trị nhiễm Aspergillus dạng dị ứng hoặc nhiễm nấm trên da. Có nhiều cách dùng thuốc khác nhau như uống, hít, xịt và thoa.
Phòng ngừa
Nhiễm nấm Aspergillus có thể được phòng ngừa bằng cách:
- Dùng thuốc kháng nấm
- Thường xuyên kiểm tra các dấu hiệu nhiễm nấm
- Tránh đến nơi có nhiều bụi, nấm mốc như công trường xây dựng hoặc nơi ủ phân bón
- Hạn chế các hoạt động làm vườn, đào đất
Lời kết
Nhiễm nấm Aspergillus có thể gây ra nhiều triệu chứng với mức độ nghiêm trọng khác nhau. Bệnh chủ yếu ảnh hưởng đến phổi và có nguy cơ gây tử vong nếu không được điều trị kịp thời. Vì vậy, mọi người cần chủ động phòng ngừa bằng cách hạn chế tiếp xúc với môi trường nhiều bụi, nấm mốc, sử dụng khẩu trang khi cần thiết, đồng thời đi khám và xét nghiệm sớm nếu có dấu hiệu nghi ngờ nhiễm bệnh.
References
- National Library of Medicine. Aspergillosis. Retrieved August 23, 2025 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK482241/
- National Library of Medicine. Aspergillus species in indoor environments and their possible occupational and public health hazards. Retrieved August 23, 2025 from https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC5490296/
- Mayo Clinic. Aspergillosis. Retrieved August 23, 2025 from https://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/aspergillosis/symptoms-causes/syc-20369619
- Cleveland Clinic. Aspergillosis. Retrieved August 23, 2025 from https://my.clevelandclinic.org/health/diseases/14770-aspergillosis
- U.S. Centers for Disease Control and Prevention. Aspergillosis Basics. Retrieved August 23, 2025 from https://www.cdc.gov/aspergillosis/about/index.html
