Khí oxy (O₂) là một trong những yếu tố quan trọng giúp con người duy trì sự sống. Cơ thể cần cân đối giữa nhu cầu và khả năng cung cấp oxy nhằm duy trì cân bằng nội môi trong cơ thể. Những bất thường trong hoạt động hô hấp hoặc tuần hoàn như mất cân bằng thông khí/tưới máu có thể khiến lượng O2 trong máu thấp hơn mức bình thường, dẫn đến chứng giảm O2 trong máu (hypoxemia).
Biểu hiện
Khí oxy đi vào mạch máu và đến các mô cơ thể thông qua phế nang tại mao mạch phổi nhờ vào hoạt động hít thở. Nếu cơ thể không nhận đủ O2 khi hít vào, lượng O2 trong máu sẽ giảm đi. Người bệnh có thể biểu hiện các triệu chứng nhẹ như đau đầu, khó thở. Trong những trường hợp nghiêm trọng, thiếu O2 trong máu có thể ảnh hưởng đến chức năng tim và não hoặc gây tử vong.
Một số triệu chứng giảm O2 trong máu thường gặp bao gồm:
- Đau đầu
- Khó thở, thở nông
- Tim đập nhanh
- Ho
- Thở khò khè
- Lú lẫn
- Da, móng, môi tím tái
Giảm O2 trong máu có thể xảy ra trong thời gian ngắn, dẫn đến suy hô hấp cấp tính. Những trường hợp kéo dài hàng tháng hoặc nhiều năm được gọi là suy hô hấp mạn tính.

Nguồn: Cleveland Clinic
Nguyên nhân
Chứng giảm O₂ trong máu có thể bắt nguồn từ một số bệnh lí nền về hô hấp, tuần hoàn hoặc do các loại thuốc làm chậm hoạt động hít thở như:
- Hội chứng ngưng thở khi ngủ
- Hội chứng suy hô hấp cấp tính
- Thiếu máu
- Hen suyễn
- Viêm phế quản
- Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
- Dị tật tim bẩm sinh
- Suy tim sung huyết
- Khí phế thũng
- Viêm phổi
- Tràn khí màng phổi
- Ứ dịch trong phổi
- Thuyên tắc phổi
- Xơ phổi
- Tăng áp động mạch phổi
Những bệnh lí này gây giảm O2 trong máu thông qua các cơ chế như:
Mất cân bằng thông khí-tưới máu
Oxy đi vào máu thông qua hai quá trình là thông khí (không khí đi đến phổi) và tưới máu (máu lưu thông qua phổi) để nhận oxy. Nếu một trong hai quá trình này không diễn ra bình thường, O2 sẽ tích tụ nhiều trong phổi nhưng lượng máu không đủ để vận chuyển O2 đến các mô hoặc ngược lại. Hiện tượng này được gọi là mất cân bằng thông khí-tưới máu.

Nguồn: BioRender
Giảm khuếch tán O2
Trong một số trường hợp, hoạt động thông khí và tưới máu diễn ra hiệu quả. Tuy nhiên, O2 vẫn khó đi từ phổi vào mạch máu do phổi ứ dịch, viêm hoặc xơ, dẫn đến khả năng khuếch tán O2 giảm đi. Ngoài ra, khi người bệnh vận động mạnh như tập thể dục, cung lượng tim tăng lên khiến dòng máu di chuyển nhanh hơn, từ đó thời gian trao đổi khí giữa máu và phế nang giảm.

Nguồn: GE HealthCare
Giảm thông khí
Giảm thông khí xảy ra khi người bệnh thở quá nông hoặc quá chậm, do đó lượng O2 đi vào phổi không đủ. Những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này bao gồm tắc nghẽn đường thở, tăng áp suất riêng phần của các khí khác trong phế nang, trung tâm điều khiển hô hấp suy yếu hoặc hạn chế cử động của thành ngực.
Dòng máu theo chiều phải-trái
Thông thường, máu thiếu O2 từ tim bên phải sẽ được bơm lên phổi nhằm trao đổi khí, sau đó quay về tim bên trái để đi đến các cơ quan khác khắp cơ thể. Tuy nhiên, một số dị tật tim có thể làm thay đổi dòng chảy của máu, khi đó máu thiếu oxy đi đến tim bên trái mà không nhận O2 tại phổi.

Nguồn: Little Hearts Matter
Chẩn đoán
Chứng tăng O₂ trong máu được chẩn đoán dựa trên các xét nghiệm sau:
- Đo oxy mạch: lượng oxy trong máu được đo thông qua cảm biến đặt trên ngón tay
- Xét nghiệm khí máu động mạch: đo nồng độ O₂ trong máu thu nhận từ cổ tay, cánh tay hoặc bẹn
- Kiểm tra đi bộ 6 bước: đánh giá chức năng phổi và tim bằng cách theo dõi nồng độ O₂ cũng như quãng đường người bệnh có thể đi trong 6 phút
Thông thường, bác sĩ đo oxy mạch đầu tiên nhằm xác định chỉ số bão hoà O₂, sau đó thực hiện xét nghiệm khí máu động mạch. Người khoẻ mạnh có nồng độ O₂ khoảng 95–100% và áp suất O₂ động mạch khoảng 75–100 mm Hg. Nếu các giá trị này thấp 90% và 60 mm Hg, bác sĩ có thể kết luận người bệnh mắc chứng giảm O₂ trong máu.
Điều trị
Người bệnh được chỉ định các phương pháp điều trị chứng giảm O₂ trong máu khác nhau dựa trên bệnh lí nền và mức độ nghiêm trọng của triệu chứng.
Một số liệu pháp bao gồm:
- Sử dụng ống hít chứa steorid hoặc thuốc giãn phế quản
- Uống thuốc lợi tiểu nhằm loại bỏ dịch tích tụ trong phổi
- Đặt máy thở áp lực dương liên tục
- Cung cấp O₂ bằng mặt nạ thở hoặc ống thông

Ảnh: Máy trợ thở áp lực dương liên tục
Nguồn: Cleveland Clinic

Ảnh: Bệnh nhân sử dụng máy trợ thở khi ngủ
Nguồn: SafarMuslim
Lời kết
Tình trạng thiếu oxy máu có thể đe dọa đến tính mạng nhưng hoàn toàn có thể điều trị nếu bệnh nhân được chăm sóc y tế kịp thời. Tình trạng này có thể xảy ra không thường xuyên mà không có triệu chứng rõ ràng, ví dụ như bệnh nhân bị ngưng thở khi ngủ ban đêm. Tim có thể bị tổn thương theo thời gian, do đó bệnh nhân và người thân cần phải hiểu rõ nguy cơ và các biện pháp phòng ngừa.
References
- Cleveland Clinic. Hypoxemia. Retrieved July 19, 2025 from https://my.clevelandclinic.org/health/diseases/17727-hypoxemia
- National Library of Medicine. Mechanisms of hypoxemia. Retrieved July 19, 2025 from https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC5234199/
- Mayo Clinic. Hypoxemia. Retrieved July 19, 2025 from https://www.mayoclinic.org/symptoms/hypoxemia/basics/definition/sym-20050930
- National Library of Medicine. Hypoxia. Retrieved July 19, 2025 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK482316/
