• Skip to primary navigation
  • Skip to main content
  • Skip to footer
  • Hà Nội
  • TPHCM
  • Đà Nẵng
  • Sàng lọc thai NIPT
  • Chẩn đoán ung thư
  • Sàng lọc gen lặn
  • Chẩn đoán di truyền
  • Hà Nội
  • TPHCM
  • Đà Nẵng
  • Zalo
  • Facetime
  • Viber
  • Web chat
  • Gọi
  • Zalo
  • Dịch vụ
  • Địa chỉ
  • Đặt hẹn

Trung tâm xét nghiệm ihope

  • Xét nghiệm
    • Sàng lọc thai NIPT

      Phát hiện sớm hội chứng Down

    • Chẩn đoán ung thư

      Hỗ trợ điều trị trúng đích và miễn dịch

    • Sàng lọc gen lặn

      Phát hiện sớm các bệnh di truyền

    • Chẩn đoán di truyền

      Bệnh di truyền ở trẻ em và người lớn

    • Hợp tác
  • Thư viện
  • Hỗ trợ
  • Liên hệ
  • Xét nghiệm
    • Sàng lọc thai NIPT
    • Chẩn đoán ung thư
    • Sàng lọc gen lặn
    • Chẩn đoán di truyền
  • Links
    • Hỗ trợ
    • Liên hệ
    • Hợp tác
    • Thư viện
  • Gọi ngay
Thư viện Sức khỏeBệnh di truyềnBệnh liên kết NST X

Thiếu máu bất sản

08/04/202505/05/2025
Thiếu Máu Bất Sản

Thiếu máu bất sản (aplastic anemia) xảy ra khi tuỷ xương không tạo đủ tế bào máu cho cơ thể. Người bệnh thường dễ chảy máu và nhiễm trùng. Nếu kgo6ng được điều trị, người bệnh có thể gặp nguy hiểm đến tính mạng. Một số yếu tố có thể tăng nguy cơ mắc bệnh bao gồm di truyền, hóa trị, xạ trị và hoá chất độc hại.

Biểu hiện lâm sàng

Thành phần chính của máu bao gồm hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu. Các tế bào này có nguồn gốc từ tế bào gốc tạo máu trong tuỷ xương. Tế bào gốc tạo máu là cấu trúc mô mềm, xốp với nhiều mạch máu bao quanh, chúng hiện diện bên trong phần lớn xương của cơ thể.

Quá Trình Phát Triển Tế Bào Máu Trong Tủy Xương
Ảnh: Quá trình phát triển tế bào máu trong tủy xương
Nguồn: Alila Medical Media

Tế bào máu đảm nhiệm nhiều chức năng quan trọng như:

  • Hồng cầu vận chuyển oxy
  • Bạch cầu ngăn ngừa nhiễm trùng
  • Tiểu cầu kiểm soát chảy máu

Vì vậy, những bất thường về tuỷ xương có thể dẫn đến tình trạng thiếu máu và các vấn đề sức khoẻ.

Thiếu máu bất sản xảy ra khi tuỷ xương không sản xuất đủ cả ba loại tế bào máu. Biểu hiện của bệnh thường tiến triển trong vài tuần đến vài tháng nên khó phát hiện. Tuy nhiên, một số bệnh nhân có thể biểu hiện các triệu chứng nghiêm trọng ngay từ giai đoạn đầu.

Những dấu hiệu của thiếu máu bất sản bao gồm:

  • Đau đầu, chóng mặt
  • Buồn nôn
  • Khó thở
  • Sốt, mệt mỏi
  • Phát ban
  • Da nhợt nhạt
  • Nhịp tim nhanh hoặc bất thường
  • Nhiễm trùng thường xuyên và kéo dài
  • Bầm tím không rõ nguyên nhân
  • Chảy máu mũi và nướu
  • Vết thương chảy máu kéo dài
  • Gan hoặc lách lớn bất thường
  • Viêm xoang
  • Phân lẫn máu
  • Nấm miệng

Nếu không được điều trị, thiếu máu bất sản có thể gây ra những biến chứng sau:

  • Thiếu máu
  • Nhiễm trùng nghiêm trọng
  • Máu khó đông
  • Loạn nhịp tim, suy tim
  • Hội chứng rối loạn sinh tuỷ
Suy Tim

Ảnh: Suy tim
Nguồn: Gleneagles Hospital

Độ phổ biến

Tại Mĩ, ước tính khoảng 300–900 người được chẩn đoán mắc bệnh thiếu máu bất sản tại hằng năm. Ngoài ra, tỉ lệ mắc bệnh tại châu Âu vào khoảng 2/1.000.000 người. Phần lớn bệnh nhân thuộc độ tuổi 15–25 và trên 60.

Nguyên nhân

Bệnh di truyền

Thiếu máu Fanconi

Khoảng 80–90% các trường hợp thiếu máu Fanconi bắt nguồn từ đột biến một trong ba gen FANCA, FANCC, FANCG gây ra. Ba gen này cung cấp hướng dẫn tạo ra protein hình thành nên cấu trúc lõi của phức hợp FA. Phức hợp FA gồm một nhóm protein có chức năng sửa chữa tổn thương ADN .

Đột biến một trong ba gen trên dẫn đến phức hợp FA mất khả năng sửa chữa lỗi sai trên ADN. Do đó, hai nucleotite trên hai mạch của ADN liên kết với nhau theo kiểu cộng hoá trị thay vì liên kết hydro như thông thường. Liên kết cộng hóa trị bất thường này làm gián đoạn quá trình sao chép ADN, từ đó tế bào chết đi hoặc tăng sinh không kiểm soát. Đối với thiếu máu bất sản, tế bào tuỷ xương chết đi sẽ làm giảm lượng tế bào máu trong cơ thể.

Liên Kết Bất Thường Giữa Hai Mạch Adn
Ảnh: Liên kết bất thường giữa hai mạch ADN
Nguồn: Frontiers in Bioscience
Cấu Trúc Dna.w

Ảnh: Cấu trúc ADN
Nguồn: Labster Theory pages

Loạn sản sừng bẩm sinh

Đột biến gen TERT, TERC, DKC1 hoặc TINF2 gây ra khoảng 50% trường hợp loạn sản sừng bẩm sinh. Những gen này cung cấp hướng dẫn tạo ra protein có chức năng duy trì cấu trúc telomere tại đầu nhiễm sắc thể. Telomere kiểm soát số lần phân chia của tế bào. Do đó, đột biến các gen trên ảnh hưởng nghiêm trọng đến những tế bào có tốc độ phân chia nhanh như tế bào tuỷ xương.

Telomere
Ảnh: Telomere
Nguồn: Darryl Leja, NHGRI
phan-chia-te-bao

Ảnh: Quá trình phân chia tế bào (Nguyên phân)
Nguồn: Designua/Shutterstock.com

Hội chứng Shwachman-Diamond

Khoảng 90% các trường hợp mắc hội chứng Shwachman-Diamond có liên quan đến gen SBDS. Gen này cung cấp hướng dẫn tạo ra protein có chức năng quan trọng đối với ribosome—cấu trúc tham gia quá trình tổng hợp protein. Đột biến gen SBDS làm giảm số lượng hoặc thay đổi chức năng của protein SBDS, do đó chúng tác động đến cấu trúc ribosome và các quá trình phát triển của cơ thể.

Ribosome Giúp Tổng Hợp Protein
Ảnh: Ribosome giúp tổng hợp protein
Nguồn: Designua/Shutterstock.com

Thiếu máu Diamond-Blackfan

Thiếu máu Diamond-Blackfan bắt nguồn từ đột biến nhiều gen liên quan đến ribosome, các gen này bao gồm RPL5, RPL11, RPL35A, RPS10, RPS17, RPS19, RPS24 và RPS26. Những đột biến này ảnh hưởng đến chức năng của ribosome, từ đó chúng thúc đẩy quá trình chết của các tế bào tạo máu trong tuỷ xương.

Hội chứng Pearson

Hội chứng Pearson do các đột biến mất đoạn lớn (1.000–10.000 nucleotite) trên bộ gen ti thể gây ra. Những đột biến này làm mất nhiều gen cung cấp hướng dẫn tạo ra protein tham gia quá trình phosphoryl hoá oxy hoá—giai đoạn cuối cùng của hoạt động hô hấp tế bào. Do đó, ti thể không cung cấp đủ năng lượng cho tế bào nên các chức năng của tế bào bị ảnh hưởng.

cau-truc-ty-the
Ảnh: Cấu trúc của ti thể
Nguồn: Designua/Shutterstock.com

Nguyên nhân khác

Một số yếu tố khác làm tăng nguy cơ mắc bệnh thiếu máu bất sản bao gồm:

  • Bệnh tự miễn, các bệnh lí về máu
  • Nhiễm virus Epstein-Barr, virus cytomegalo, parvovirus B19, HIV
  • Tiểu ra máu ban đêm
  • Mang thai (hiếm gặp)
  • Tiếp xúc với các hoá chất độc hại như arsenic, benzene
  • Hoá trị và xạ trị liều cao
  • Sử dụng thuốc chloramphenicol, thuốc chứa các hợp chất của vàng

Chẩn đoán

Thiếu máu bất sản được chẩn đoán dựa trên kết quả khám sức khoẻ tổng quát, xét nghiệm máu, sinh thiết tuỷ xương và xét nghiệm di truyền.

Xét nghiệm máu

Đối với người mắc bệnh thiếu máu bất sản, lượng hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu trong máu rất thấp. Vì vậy, bác sĩ có thể chỉ định các phương pháp xét nghiệm máu sau nhằm chẩn đoán bệnh.

  • Xét nghiệm công thức máu toàn bộ có phân biệt: kiểm tra và định lượng các loại tế bào máu, bao gồm 5 loại bạch cầu
  • Phết máu ngoại vi: quan sát các tế bào máu và tiểu cầu bằng kính hiển vi
  • Xét nghiệm hồng cầu lưới: xác định số lượng hồng cầu chưa trưởng thành

Sinh thiết tuỷ xương

Bác sĩ dùng kim hút tuỷ xương từ xương chậu hoặc những xương lớn khác của bệnh nhân, sau đó quan sát mẫu tuỷ xương bằng kính hiển vi. Người bệnh có lượng tế bào máu thấp hơn người bình thường. Phương pháp này có thể loại trừ các bệnh liên quan đến máu khác và xác nhận chẩn đoán thiếu máu bất sản.

Chọc hút và sinh thiết tủy xương
Ảnh: Chọc hút và sinh thiết tủy xương. Sau khi gây tê một vùng da nhỏ, bác sĩ đưa một cây kim vào xương hông của bệnh nhân. Mẫu máu, xương và tủy xương được hút ra để kiểm tra dưới kính hiển vi
Nguồn: Terese Winslow LLC

Xét nghiệm di truyền

Bác sĩ có thể chỉ định các phương pháp xét nghiệm gen và nhiễm sắc thể nếu nghi ngờ người bệnh mắc một số bệnh di truyền dẫn đến thiếu máu bất sản.

Điều trị

Truyền máu

Bệnh nhân có thể truyền hồng cầu nhằm tăng cường số lượng tế bào hồng cầu, từ đó tình trạng thiếu máu và mệt mỏi được cải thiện. Ngoài ra, người bệnh có thể truyền tiểu cầu nhằm kiểm soát hiện tượng chảy máu.

Truyền Máu
Ảnh: Truyền máu (hồng cầu)
Nguồn: National Cancer Institute

Tuy nhiên, phương pháp truyền hồng cầu có thể khiến sắt tích tụ trong cơ thể và gây tổn thương các cơ quan nghiêm trọng. Ngoài ra, truyền máu thời gian dài sẽ làm giảm hiệu quả điều trị do hệ miễn dịch của người bệnh tạo ra các kháng thể để tấn công tế bào máu được truyền vào cơ thể. Bác sĩ có thể kê đơn thuốc ức chế miễn dịch và thuốc loại bỏ lượng sắt dư khỏi cơ thể nhằm hạn chế những vấn đề này.

Ghép tế bào gốc tuỷ xương

Ghép tế bào gốc đồng loại nhằm tái tạo tuỷ xương có thể điều trị thành công các trường hợp thiếu máu bất sản nghiêm trọng. Phương pháp này thường được chỉ định cho bệnh nhân trẻ tuổi có người hiến tặng phù hợp.

Cấy Ghép Tế Bào Gốc
Ảnh: Ghép tế bào gốc tạo máu
Nguồn: National Cancer Institute

Các bước cấy tế bào gốc tuỷ xương bao gồm:

  • Bước 1. Hoá trị hoặc xạ trị nhằm loại bỏ tuỷ xương của người bệnh
  • Bước 2. Chọn lọc tế bào gốc khoẻ mạnh từ máu của người hiến tặng
  • Bước 3. Tiêm tế bào gốc hiến tặng theo đường tĩnh mạch vào máu

Sau khi tiêm, tế bào gốc mới di chuyển đến tuỷ xương rồi bắt đầu tạo ra các tế bào máu khỏe mạnh. Sau khi thực hiện ghép tế bào gốc, bác sĩ sẽ kê đơn thuốc giúp hạn chế hiện tượng đào thải vật ghép. Trong một số trường hợp, cơ thể người bệnh không thể tiếp nhận tế bào hiến tặng nên người bệnh có thể g8a5p biến chứng nguy hiểm đến tính mạng.

Thuốc ức chế miễn dịch

Đối với người bị thiếu máu bất sản do bệnh tự miễn hoặc không thể thực hiện phương pháp ghép tuỷ xương, họ được điều trị bằng thuốc cyclosporine (Gengraf, Neoral, Sandimmune) kèm globulin kháng tế bào tuyến ức—một loại tế bào miễn dịch. Những loại thuốc này có thể phục hồi tuỷ xương và tạo ra nhiều tế bào máu mới. Ngoài ra, bác sĩ thường kê đơn thêm thuốc kháng viêm như methylprednisolone (Medrol, Solu-Medrol).

Thuốc ức chế miễn dịch điều trị bệnh hiệu quả, tuy nhiên, chúng có thể làm suy yếu hệ miễn dịch của người bệnh. Mặt khác, bệnh có thể tái phát sau khi bệnh nhân ngưng sử dụng thuốc.

Thuốc kích thích tuỷ xương

Một số loại thuốc chứa yếu tố thúc đẩy tăng trưởng có chức năng kích thích tuỷ xương tạo ra các tế bào máu mới. Bệnh nhân có thể sử dụng thuốc này kết hợp với thuốc ức chế miễn dịch.

Các loại thuốc kích thích tuỷ xương phổ biến bao gồm:

  • Sargramostim (Leukine)
  • Filgrastim (Neupogen)
  • Pegfilgrastim (Neulasta)
  • Epoetin alfa (Epogen/Procrit)
  • Eltrombopag (Promacta)

Dạng di truyền

Trong trường hợp thiếu máu bất sản liên quan đến các bệnh di truyền, bệnh có thể di truyền theo nhiều dạng gồm.

Trội trên nhiễm sắc thể thường

Trường hợp bệnh di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường, một bản sao của gen trong mỗi tế bào đủ để gây ra bệnh. Người bệnh thường được di truyền từ cha hoặc mẹ mắc bệnh. Một số ít trường hợp là do đột biến mới (denovo) xuất hiện trong quá trình hình thành tế bào sinh sản (trứng, tinh trùng) hoặc quá trình phát triển phôi sớm.

Di truyền gen trội
Ảnh: Sơ đồ di truyền gen trội từ cha mẹ sang con
Nguồn: U.S. National Library of Medicine

Lặn trên nhiễm sắc thể thường

Đối với di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường, bệnh chỉ biểu hiện khi có cả hai bản sao của gen đột biến trong mỗi tế bào. Bệnh nhân mắc bệnh di truyền gen lặn trên nhiễm sắc thể thường có bố và mẹ mang một bản sao của gen đột biến, nhưng họ ít khi biểu hiện triệu chứng bệnh.

Di truyền gen lặn
Ảnh: Sơ đồ di truyền gen lặn từ cha mẹ sang con
Nguồn: U.S. National Library of Medicine

Lặn liên kết với nhiễm sắc thể giới tính X

Nam giới chỉ có một nhiễm sắc thể X, do đó một bản sao của gen đột biến trong mỗi tế bào đủ để gây ra triệu chứng bệnh nghiêm trọng. Người cha bị bệnh không thể truyền gen đột biến này cho con trai. Đối với phụ nữ có hai nhiễm sắc thể X, đột biến tại một bản sao của gen gây bệnh thường gây ra các triệu chứng nhẹ.

Cơ chế di truyền gen lặn trên nhiễm sắc thể X
Ảnh: Cơ chế di truyền gen lặn trên nhiễm sắc thể X
Nguồn: U.S. National Library of Medicine

Chăm sóc bệnh nhân thiếu máu bất sản

Người mắc bệnh thiếu máu bất sản cần lưu ý những vấn đề sau.

  • Tránh các hoạt động tiếp xúc nhiều, các môn thể thao đối kháng để giảm nguy cơ bị thương và chảy máu
  • Bảo vệ bản thân khỏi virus và vi khuẩn bằng cách tiêm vaccine đầy đủ, rửa tay thường xuyên và đeo khẩu trang khi ra ngoài
  • Ngủ đủ giấc và nghỉ ngơi khi cần thiết
  • Có chế độ ăn uống lành mạnh và tập thể dục nhẹ nhàng

Lời kết

Thiếu máu bất sản là một dạng bệnh lí về máu hiếm gặp nhưng nghiêm trọng. Bệnh xảy ra khi hệ miễn dịch tự tấn công tủy xương, do đó tủy xương không thể tạo ra các tế bào máu và tiểu cầu cần thiết cho cơ thể. Điều trị sớm rất quan trọng nhằm kiểm soát triệu chứng và cải thiện tiên lượng sống cho người bệnh. Các phương pháp điều trị bệnh phổ biến hiện nay bao gồm truyền máu, ghép tế gốc tủy xương, sử dụng thuốc ức chế miễn dịch và thuốc kích thích tủy xương. Mỗi biện pháp đều có ưu điểm và hạn chế. Do đó, người bệnh cần tuân thủ hướng dẫn của bác sĩ, duy trì lối sống lành mạnh và theo dõi sức khỏe định kì để đạt hiệu quả điều trị tối ưu.

References

  1. U.S National Library of Medicine. Aplastic Anemia. Retrieved February 10, 2025 from https://medlineplus.gov/aplasticanemia.html
  2. Cleveland Clinic. Aplastic Anemia. Retrieved February 10, 2025 from https://my.clevelandclinic.org/health/diseases/16747-aplastic-anemia
  3. Frontiers. Unraveling trajectories from aplastic anemia to hematologic malignancies: genetic and molecular insights. Retrieved February 10, 2025 from https://www.frontiersin.org/journals/oncology/articles/10.3389/fonc.2024.1365614/full
  4. Johns Hopkins Medicine. Aplastic Anemia. Retrieved February 10, 2025 from https://www.hopkinsmedicine.org/health/conditions-and-diseases/aplastic-anemia
  5. Mayo Clinic. Aplastic anemia. Retrieved February 10, 2025 from https://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/aplastic-anemia/symptoms-causes/syc-20355015
  6. MSD Manuals. Aplastic Anemia. Retrieved February 10, 2025 from https://www.msdmanuals.com/professional/hematology-and-oncology/anemias-caused-by-deficient-erythropoiesis/aplastic-anemia
  7. National Health Service. Aplastic anaemia. Retrieved February 10, 2025 from https://www.gosh.nhs.uk/conditions-and-treatments/conditions-we-treat/aplastic-anaemia/
  8. National Institute of Health. Aplastic Anemia. Retrieved February 10, 2025 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK534212/
  9. National Institute of Health. Diagnosis and Treatment of Aplastic Anemia. Retrieved February 10, 2025 from https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC5804354/

Filed Under: Bệnh liên kết NST X, Đột biến lặn, Đột biến trội Tagged With: Bệnh về máu, imuta- Rối loạn tăng trưởng / loạn sản xương và các rối loạn, imuta-Bệnh phổi mô kẽ, imuta-Dị dạng chi, imuta-Giảm trí não liên-kết-X, imuta-Hẹp đường tiêu hoá, imuta-Hội chứng Hermansky-Pudlak, imuta-Suy giảm miễn dịch nguyên phát, imuta-Suy tuỷ xương, imuta-Thiếu máu, imuta-Thiếu máu Diamond–Blackfan, imuta-Thiếu máu Fanconi, imuta-Ung thư bạch cầu di truyền

Hội chứng viêm-giác-mạc-da vẩy-cá-điếc
Teo cơ tủy sống kèm suy hô hấp loại 1

Related posts

  • Liệu pháp Casgevy điều trị hồng cầu hình liềm và beta-thalassemia

    Sức khỏe
  • Thiếu fibrinogen máu bẩm sinh

    Đột biến lặn
  • Thiếu máu rối loạn sinh hồng cầu và giảm tiểu cầu

    Bệnh liên kết NST X
  • Hồng cầu hình cầu di truyền

    Đột biến lặn
  • Bệnh Hemoglobin E (HbE)

    Đột biến lặn
  • Hemoglobin là gì? Các bệnh liên quan hemoglobin

    Sức khỏe

Footer

  • Xét nghiệm

    • Sàng lọc thai NIPT
    • Chẩn đoán ung thư
    • Sàng lọc sơ sinh
    • Sàng lọc gen lặn
    • Bệnh di truyền
  • Giới thiệu

    • Về chúng tôi
    • Công nghệ
    • Thư viện
    • Hợp tác
  • Hỗ trợ

    • Hỏi đáp
    • Bảo hành
    • Chính sách
  • Liên hệ

    • +84968911884
    • [email protected]
    • Địa chỉ