• Skip to primary navigation
  • Skip to main content
  • Skip to footer
  • Hà Nội
  • TPHCM
  • Đà Nẵng
  • Sàng lọc thai NIPT
  • Chẩn đoán ung thư
  • Sàng lọc gen lặn
  • Chẩn đoán di truyền
  • Hà Nội
  • TPHCM
  • Đà Nẵng
  • Zalo
  • Facetime
  • Viber
  • Web chat
  • Gọi
  • Zalo
  • Dịch vụ
  • Địa chỉ
  • Đặt hẹn

Trung tâm xét nghiệm ihope

  • Xét nghiệm
    • Sàng lọc thai NIPT

      Phát hiện sớm hội chứng Down

    • Chẩn đoán ung thư

      Hỗ trợ điều trị trúng đích và miễn dịch

    • Sàng lọc gen lặn

      Phát hiện sớm các bệnh di truyền

    • Chẩn đoán di truyền

      Bệnh di truyền ở trẻ em và người lớn

    • Hợp tác
  • Thư viện
  • Hỗ trợ
  • Liên hệ
  • Xét nghiệm
    • Sàng lọc thai NIPT
    • Chẩn đoán ung thư
    • Sàng lọc gen lặn
    • Chẩn đoán di truyền
  • Links
    • Hỗ trợ
    • Liên hệ
    • Hợp tác
    • Thư viện
  • Gọi ngay
Thư viện Sức khỏeBệnh lây nhiễm

Bệnh quai bị

16/05/2025
Quai bị (1)

Quai bị là bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus gây ra. Người bệnh có triệu chứng sưng đau các tuyến nước bọt mang tai (một hoặc hai bên); bệnh thường xuất hiện trên bé trai từ 2 đến 12 tuổi chưa được tiêm vaccine. Tuy nhiên, người trưởng thành vẫn có thể mắc quai bị dù đã tiêm phòng do khả năng miễn dịch của vaccine đã suy yếu.

Biểu hiện lâm sàng

Các triệu chứng ban đầu có thể không rõ ràng và dễ nhầm lẫn với cúm. Phần lớn trẻ nhiễm virus không phát bệnh ngay, thời gian ủ bệnh từ 7 đến 25 ngày.

Một số biểu hiện sớm bao gồm:

  • Sốt
  • Đau đầu
  • Đau cơ
  • Chán ăn
  • Mệt mỏi

Sau vài ngày từ khi phát bệnh, tuyến nước bọt mang tai (nằm giữa tai và hàm) bị viêm dẫn đến sưng, đau. Bệnh nhi thường có má sưng biến dạng trong giai đoạn này.

Salivary Glands
Ảnh: Tuyến nước bọt
Nguồn: American Cancer Society

Các dấu hiệu viêm tuyến nước bọt phổ biến như:

  • Sưng một hoặc cả hai tuyến hai bên mặt
  • Đau xung quanh chỗ sưng
  • Sưng các tuyến dưới lưỡi hoặc dưới hàm (ít gặp)
Sưng Tuyến Nước Bọt
Ảnh: Sưng tuyến nước bọt
Nguồn: National Library of Medicine

Bé trai mắc bệnh thường tiến triển thành biến chứng viêm tinh hoàn, khoảng 15% trường hợp bị vô sinh sau khi mắc quai bị. Bé gái mắc bệnh cũng có thể bị viêm buồng trứng, vô sinh hoặc tiền mãn kinh nhưng thường hiếm gặp. Ngoài ra, quai bị còn gây viêm màng não, viêm tủy, viêm tụy, viêm cơ tim.

Một số trường hợp quai bị phát triển mất thính lực, biến chứng này xảy ra đột ngột hoặc tiến triển chậm theo thời gian. Tuy nhiên, thính lực sẽ hồi phục sau khi hết bệnh. Nếu nhiễm virus quai bị trong 3 tháng đầu thai kì, sản phụ có nguy cơ sẩy thai.

Độ phổ biến và nguy cơ tiến triển biến chứng

Trong giai đoạn chưa có vaccine phòng ngừa, quai bị diễn ra trên phạm vi toàn thế giới với số ca mắc bệnh lớn. Tuy nhiên, tỉ lệ này tại Hoa Kỳ giảm đến 99% sau khi vaccine được nghiên cứu và đưa vào sử dụng.

Quai bị dẫn đến viêm tại nhiều cơ quan khác nhau. Các biến chứng xuất hiện phổ biến trên người trưởng thành hơn trẻ em.

Ngoài ra, nguy cơ tiến triển còn phụ thuộc vào loại cơ quan bị viêm như:

  • Tinh hoàn: biến chứng chủ yếu xảy ra trên thanh thiếu niên và người lớn với tỷ lệ 15–30/100 người. Viêm tinh hoàn có thể làm giảm khả năng sinh sản của nam giới
  • Tuyến vú: khoảng 30/100 phụ nữ mắc quai bị tiến triển biến chứng viêm này
  • Buồng trứng: quai bị gây viêm buồng trứng xảy ra khoảng 5/100 phụ nữ mắc bệnh. Hậu quả gây vô sinh vẫn chưa thể kết luận
  • Não (viêm não): bất thường nghiêm trọng này có tỉ lệ khoảng 1/100 người

Nguyên nhân

Visus rubulavirus thuộc họ paramyxoviridae gây ra quai bị. Chủng virus này có vật chất di truyền là sợi đơn ARN (mRNA) thay vì ADN như các loại virus thông thường. Virus quai bị lây lan từ người sang người thông qua tiếp xúc trực tiếp với nước bọt, dịch mũi, miệng hoặc cổ họng của người nhiễm bệnh.

Nhóm có nguy cơ mắc bệnh quai bị cao bao gồm:

  • Người có hệ miễn dịch yếu
  • Người di chuyển qua nhiều khu vực
  • Người không được tiêm ngừa

Con người là vật chủ tự nhiên duy nhất của bệnh quai bị do virus. Virus này có thời gian ủ bệnh thay đổi từ 7 đến 21 ngày. Tỉ lệ lây nhiễm cao nhất từ ​​1 đến 2 ngày trước khi xuất hiện các triệu chứng.

Virus xâm nhập và sao chép sơ cấp trong biểu mô niêm mạc đường hô hấp trên. Nhiễm trùng các tế bào đơn nhân trong hạch bạch huyết của khu vực dẫn đến viêm toàn thân như tuyến nước bọt, tinh hoàn, buồng trứng, tuyến tụy, tuyến vú và hệ thần kinh trung ương.

Chẩn đoán

Quai bị được chẩn đoán dựa trên nguyên nhân phơi nhiễm và các triệu chứng bao gồm sốt, mệt mỏi, chán ăn, sưng đau các tuyến nước bọt.

Các xét nghiệm chẩn đoán bao gồm:

  • Xét nghiệm PCR mẫu phết niêm mạc miệng
  • Xét nghiệm máu
  • Xét nghiệm nước tiểu (ít phổ biến)

Đối với phương pháp PCR, kĩ thuật thường được dùng là RT-PCR (Reverse Transcription Polymerase Chain Reaction). Kĩ thuật này sử dụng ARN từ virus để phiên mã ngược thành ADN. Từ đó, tín hiệu virus được ghi nhận.

Điều trị

Hiện nay, chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu bệnh quai bị, tuy nhiên bệnh thường lành tính và tự khỏi từ 3 đến 10 ngày. Các liệu pháp điều trị chủ yếu nhằm giảm sốt và sưng đau cho trẻ.

Một số biện pháp giảm nhẹ biểu hiện bệnh bao gồm:

  • Nghỉ ngơi
  • Súc miệng bằng nước muối
  • Thuốc giảm đau không cần kê toa
  • Chườm ấm hoặc lạnh lên vùng bị sưng đau
  • Uống nhiều nước
  • Ăn thức ăn mềm và tránh thực phẩm có tính axit

Trẻ nhiễm virus quai bị sử dụng thuốc chứa aspirin có thể phát triển hội chứng Reye. Hội chứng Reye khiến não sưng và gan mất chức năng đe dọa tính mạng. Do đó, bệnh nhi không được dùng thuốc có aspirin để hạ sốt. Thay vào đó, một số loại có thể được chỉ định như acetaminophen và ibuprofen.

Phòng ngừa

Quai bị là bệnh lây lan nhanh nhưng dễ phòng ngừa. Hiện nay, vaccine được khuyến nghị cho tất cả trẻ em. Vaccine quai bị được tiêm cùng với vaccine sởi và rubella (vaccine MMR), đôi khi còn được kết hợp với thủy đậu (MMRV). Liều đầu tiên được tiêm khi trẻ 11 tháng tuổi và chích nhắc khi đủ 15 tháng tuổi. Khoảng 90% trường hợp tiêm ngừa được bảo vệ với hiệu quả kéo dài đến cuối đời.

Ngoài tiêm vaccine, các phương pháp phòng ngừa chung cũng cần được chấp hành nghiêm ngặt bao gồm tránh tiếp xúc với đồ dùng cá nhân người bệnh, không tụ tập đông người, che miệng khi ho.

Kết luận

Quai bị là bệnh nhiễm trùng do virus gây ra. Bệnh nhan thường sốt cao và sưng đau các tuyến nước bọt. Đối với bé trai mắc bệnh, viêm tuyến sinh dục có thể tiến triển và gây vô sinh. Phương pháp phòng ngừa hiệu quả nhất là tiêm vaccine đầy đủ theo phác đồ tiêu chẩn.

References

  1. U.S National Library of Medicine. Mumps. Retrieved 28 July 2023 from https://medlineplus.gov/mumps.html
  2. Children's Hospital of Philadelphia. Mumps. Retrieved 28 July 2023 from https://www.chop.edu/conditions-diseases/mumps
  3. Cleveland Clinic. Mumps. Retrieved 28 July 2023 from https://my.clevelandclinic.org/health/diseases/15007-mumps
  4. KidsHealth. Mumps. Retrieved 28 July 2023 from https://kidshealth.org/en/parents/mumps.html
  5. Mayo Clinic. Mumps. Retrieved 28 July 2023 from https://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/mumps/symptoms-causes/syc-20375361
  6. MSD Manuals. Mumps (Epidemic Parotitis). Retrieved 28 July 2023 from https://www.msdmanuals.com/professional/pediatrics/common-viral-infections-in-infants-and-children/mumps
  7. National Library of Medicine. Mumps. Retrieved 28 July 2023 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK534785/

Filed Under: Bệnh lây nhiễm

Bệnh Lyme
Thuốc điều trị HIV

Related posts

  • Các triệu chứng vô sinh nam

    Vô sinh nam
  • Bệnh lao

    Bệnh lây nhiễm
  • Bệnh sốt xuất huyết do virus Marburg

    Bệnh lây nhiễm
  • Bệnh đậu mùa khỉ

    Bệnh lây nhiễm
  • Hội chứng tán huyết tăng urê huyết

    Bệnh lây nhiễm
  • Bệnh cúm

    Bệnh lây nhiễm

Footer

  • Xét nghiệm

    • Sàng lọc thai NIPT
    • Chẩn đoán ung thư
    • Sàng lọc sơ sinh
    • Sàng lọc gen lặn
    • Bệnh di truyền
  • Giới thiệu

    • Về chúng tôi
    • Công nghệ
    • Thư viện
    • Hợp tác
  • Hỗ trợ

    • Hỏi đáp
    • Bảo hành
    • Chính sách
  • Liên hệ

    • +84968911884
    • [email protected]
    • Địa chỉ