Vi khuẩn Treponema pallidum gây ra bệnh giang mai, bejel và ghẻ cóc. Vi khuẩn này lây nhiễm giữa người và một số loài linh trưởng như khỉ đầu chó. Treponema pallidum là tác nhân gây bệnh nguy hiểm vì chúng có khả năng tránh né hệ miễn dịch để tồn tại lâu dài trong cơ thể vật chủ.
Cấu tạo vi khuẩn Treponema pallidum
Vi khuẩn Treponema pallidum có hình dạng xoắn ốc đặc trưng, chúng dài 6–15 μm và rộng 0,1–0,2 μm. Treponema pallidum có khả năng di chuyển đặc biệt, chúng có thể xoay quanh trục dọc và uốn cong, gập lại theo chiều dài. Vi khuẩn này khó nhuộm màu bằng thuốc nhuộm aniline thông thường nhưng có thể được quan sát thông qua kính hiển vi trường tối hoặc phương pháp nhuộm bạc.

Nguồn: Science photo library
Vi khuẩn Treponema pallidum khó nuôi cấy, chúng cần sống trong môi trường vi hiếu khí với điều kiện pH 7,2–7,4 và nhiệt độ 30–37°C để có thể phát triển tốt. Môi trường vi hiếu khí là môi trường có nồng độ oxy thấp hơn so với nồng độ oxy trong không khí. Treponema pallidum rất nhạy cảm với nhiệt độ, độ ẩm và các chất khử trùng. Thời gian sinh sản của vi khuẩn khá chậm, khoảng 30 giờ cho một lần nhân đôi.
Vi khuẩn Treponema pallidum có hệ thống màng phức tạp gồm màng ngoài, lớp peptidoglycan và màng trong. Khác với phần lớn những vi khuẩn gram âm , lớp peptidoglycan của Treponema pallidum nằm giữa màng ngoài và màng trong.

Nguồn: en.ppt-online.org
Ngoài ra, Treponema pallidum có các roi nội bào giúp vi khuẩn di chuyển theo kiểu xoắn ốc, đồng thời hỗ trợ chúng xâm nhập vào niêm mạc và da . Vi khuẩn này có khả năng lây nhiễm mạnh và né tránh hệ miễn dịch, do đó, chúng là một mầm bệnh nguy hiểm và rất khó kiểm soát.
Thành phần hóa học của vi khuẩn gồm 70% protein, 20% lipid và 5% carbohydrate. Hàm lượng lipid này khá cao so với các loại vi khuẩn khác.

Ảnh: Vi khuẩn gram âm
Nguồn: Pinterest

Ảnh: Cấu tạo của da
Nguồn: U.S National Library of Medicine
Cơ chế gây bệnh
Vi khuẩn Treponema pallidum sở hữu một số cấu trúc nhằm tránh né hệ miễn dịch của vật chủ. Màng ngoài của vi khuẩn không có lipopolysaccharide (LPS) và có rất ít mô hình phân tử liên quan đến mầm bệnh (Pathogen-Associated Molecular Pattern – PAMP) trên bề mặt, do đó hệ miễn dịch bẩm sinh không nhận diện được chúng. Mô hình phân tử liên quan đến mầm bệnh là những phân tử hiện diện trên bề mặt hoặc bên trong các vi sinh vật gây bệnh như vi khuẩn, virus và kí sinh trùng nhưng không có trên tế bào vật chủ (con người). Vì vậy, hệ miễn dịch bẩm sinh của cơ thể sẽ nhận diện những phân tử này là tác nhân lạ và tấn công nhằm tiêu diệt chúng.
Bên cạnh đó, lớp lipoprotein của Treponema pallidum chủ yếu nằm tại màng trong thay vì màng ngoài như những vi khuẩn khác. Do đó, đại thực bào và tế bào tua không thể nhận diện lớp lipoprotein để kích hoạt đáp ứng miễn dịch. Ngoài ra, Treponema pallidum có thể trú ẩn trong nang lông và dây thần kinh nhằm tránh các đợt tấn công của hệ miễn dịch.

Nguồn: Alila Medical Media/Shutterstock.com
Mặt khác, Treponema pallidum có khả năng tồn tại trong giai đoạn tiềm ẩn, nghĩa là hệ miễn dịch đã kích hoạt phản ứng miễn dịch để tạo ra kháng thể nhưng vi khuẩn vẫn tiếp tục hiện diện trong cơ thể và không gây ra triệu chứng rõ ràng. Người ta đang tìm hiểu cơ chế gây bệnh của vi khuẩn Treponema pallidum trong giai đoạn tiềm ẩn này.

Nguồn: Wisegeek

Ảnh: Các loại tế bào miễn dịch
Nguồn: ihope.vn
Một số bệnh lí do vi khuẩn Treponema pallidum gây ra
Vi khuẩn Treponema pallidum có nhiều phân loài, mỗi phân loài gây ra bệnh lí khác nhau. Các phân loài gây bệnh phổ biến bao gồm:
- Treponema pallidum subsp. pallidum: gây bệnh giang mai lây truyền chủ yếu qua đường tình dục
- Treponema pallidum subsp. endemicum: gây bệnh bejel lây truyền chủ yếu qua tiếp xúc trực tiếp. Bệnh bejel xuất hiện phổ biến trong cộng đồng dân cư kém phát triển và điều kiện vệ sinh kém
- Treponema pallidum subsp. pertenue: gây bệnh ghẻ cóc lây truyền qua các vết thương hở trên da
Bệnh giang mai
Độ phổ biến
Bệnh giang mai lây truyền qua đường tình dục phân bố rộng rãi trên thế giới. Tỉ lệ mắc bệnh cao nhất trong độ tuổi 20–24.
Xem thêm: Bệnh lây truyền qua đường tình dục
Biểu hiện lâm sàng
Bệnh giang mai gồm bốn giai đoạn chính gồm sơ cấp, thứ cấp, tiềm ẩn và giai đoạn muộn. Trong đó, mỗi giai đoạn đều có biểu hiện lâm sàng riêng biệt.
Giai đoạn sơ cấp
Giai đoạn sơ cấp hay giai đoạn 1 bắt đầu từ 10–90 ngày sau khi người bệnh tiếp xúc với vi khuẩn Treponema pallidum. Người bệnh xuất hiện vết loét nhỏ gọi là săng tại vị trí vi khuẩn xâm nhập (vùng sinh dục, miệng hoặc hậu môn). Săng có dạng hình tròn hoặc bầu dục, bề mặt sạch và viền cứng. Các vết loét này không đau nhưng rất dễ lây lan.

Nguồn: Cleveland Clinic
Săng có thể tự lành trong vòng 3–6 tuần và không cần điều trị. Tuy nhiên, vi khuẩn vẫn tồn tại trong cơ thể, bệnh có thể tiến triển sang giai đoạn tiếp theo nếu không được điều trị.
Giai đoạn thứ cấp
Giai đoạn thứ cấp hay giai đoạn 2 tiến triển sau khi các nốt săng đã lành từ 2–24 tuần. Lúc này, vi khuẩn lan khắp cơ thể thay vì tập trung tại các vết loét như trong giai đoạn sơ cấp.
Triệu chứng của người bệnh trong giai đoạn thứ cấp bao gồm:
- Sốt nhẹ
- Mệt mỏi
- Đau họng
- Đau cơ hoặc khớp
- Sưng hạch lympho toàn thân
- Phát ban da và niêm mạc
Phát ban xuất hiện tại lòng bàn tay và bàn chân. Chúng có màu nâu đỏ và không ngứa. Các triệu chứng này có thể tự biến mất sau vài tuần đến vài tháng nhưng bệnh vẫn tồn tại trong cơ thể và tiến triển sang giai đoạn tiềm ẩn hoặc giai đoạn muộn.

Nguồn: Martin M. Rotker/Science Source

Ảnh: Sưng hạch bạch huyết tại bẹn
Nguồn: Cleveland Clinic
Giai đoạn tiềm ẩn
Giai đoạn tiềm ẩn tiến triển sau giai đoạn thứ cấp và kéo dài nhiều năm. Người bệnh không có biểu hiện rõ ràng bên ngoài nhưng vi khuẩn vẫn tồn tại trong cơ thể. Vì vậy, trong giai đoạn tiềm ẩn sớm (dưới 1 năm), người bệnh có khả năng lây nhiễm cho người khác thông qua quan hệ tình dục không an toàn. Nếu giai đoạn tiềm ẩn kéo dài hơn một năm, nguy cơ lây nhiễm qua tiếp xúc tình dục giảm đáng kể. Tuy nhiên, phụ nữ mang thai có nguy cơ lây truyền vi khuẩn từ mẹ sang con.
Giai đoạn tiềm ẩn có thể kéo dài suốt đời và không cần điều trị hoặc người bệnh sẽ chuyển sang giai đoạn muộn với các biến chứng nghiêm trọng.
Giai đoạn muộn
Giai đoạn muộn là giai đoạn nghiêm trọng nhất, người bệnh bị tổn thương vĩnh viễn nhiều cơ quan trong cơ thể, chủ yếu là tim mạch và hệ thần kinh . Giai đoạn này có thể diễn ra sau 10–30 năm nếu người bệnh không được điều trị.
Người bệnh xuất hiện những biến chứng sau:
- Gôm: gây tổn thương mô mềm trên da, xương hoặc cơ quan nội tạng. Gôm có dạng hạt hoặc khối u mềm, bề mặt nhẵn hoặc hơi lồi
- Tổn thương tim mạch: như viêm động mạch chủ, phình động mạch và tổn thương van tim
- Tổn thương thần kinh: dẫn đến suy giảm trí nhớ, rối loạn cảm giác, khó điều khiển cơ thể và nghiêm trọng hơn có thể gây tử vong
Mặt khác, Treponema pallidum có thể lây truyền từ mẹ sang con qua nhau thai, từ đó gây bệnh giang mai bẩm sinh cho trẻ. Vì vậy, thai phụ nhiễm Treponema pallidum có nguy cơ sảy thai, thai chết lưu hoặc trẻ sinh ra bị dị tật.

Ảnh: Cấu trúc tim
Nguồn: American Heart Association

Ảnh: Hệ thần kinh người
Nguồn: Encyclopædia Britannica, Inc.
Chẩn đoán
Bệnh giang mai rất khó được chẩn đoán vì người ta không thể nuôi cấy Treponema pallidum subsp. pallidum trong phòng thí nghiệm. Bác sĩ thường chẩn đoán bệnh giang mai dựa vào ba yếu tố gồm biểu hiện lâm sàng, quan sát vi khuẩn trong dịch lấy từ vết loét và xét nghiệm huyết thanh.
Đối với bệnh giang mai bẩm sinh, quá trình chẩn đoán phức tạp hơn do kháng thể từ mẹ xuất hiện trong máu của trẻ sơ sinh. Vì vậy, bác sĩ cần theo dõi trẻ trong 6 tháng đầu đời nhằm xác định chính xác tình trạng nhiễm bệnh.
Xét nghiệm huyết thanh là phương pháp chính sử dụng trong chẩn đoán bệnh giang mai. Chúng cũng là phương pháp duy nhất phát hiện những người nhiễm bệnh không có triệu chứng. Hiện nay có hơn 200 loại xét nghiệm huyết thanh khác nhau, chúng được chiag thành hai nhóm chính.
Xét nghiệm không đặc hiệu treponema
Một số xét nghiệm không đặc hiệu phổ biến gồm xét nghiệm VDRL (Venereal Disease Research Laboratory) và RPR (Rapid Plasma Reagin). Những xét nghiệm này có thể phát hiện kháng thể không đặc hiệu cơ thể tạo ra để phản ứng với tổn thương do vi khuẩn Treponema pallidum gây ra. Những xét nghiệm này thường được dùng cho mục đích tầm soát vì chi phí thấp và dễ thực hiện.

Nguồn: blog.healthians.com
Xét nghiệm không đặc hiệu có thể cho kết quả dương tính giả trong trường hợp người đó mắc bệnh tự miễn, sốt rét hoặc nhiễm trùng khác. Vì vậy, khi có kết quả xét nghiệm không đặc hiệu dương tính, người bệnh cần thực hiện thêm xét nghiệm đặc hiệu để xác nhận kết quả chẩn đoán.
Xét nghiệm đặc hiệu treponema
Xét nghiệm đặc hiệu treponema có thể phát hiện kháng thể đặc hiệu chống lại vi khuẩn Treponema pallidum. Người ta sử dụng những xét nghiệm này để xác nhận kết quả dương tính từ các xét nghiệm không đặc hiệu. Một số xét nghiệm đặc hiệu phổ biến gồm FTA-ABS (Fluorescent Treponema pallidum Antibody-absorption) và MHA-Tp (Microhemagglutination for Treponema pallidum).
Điều trị
Penicillin là thuốc kháng sinh phổ biến nhất dùng trong điều trị bệnh giang mai do chúng có hiệu quả cao và ít gây kháng thuốc. Đối với bệnh nhân không dị ứng penicillin và không tổn thương thần kinh trung ương, phác đồ điều trị tiêu chuẩn là sử dụng benzathine penicillin G dạng tiêm cơ bắp.
Trường hợp bệnh nhân dị ứng penicillin hoặc có tổn thương thần kinh, bác sĩ có thể thay penicillin bằng tetracycline, doxycycline và ceftriaxone. Ngoài ra, bác sĩ có thể áp dụng phương pháp giải mẫn cảm penicillin bằng cách cho bệnh nhân uống hoặc tiêm liều rất nhỏ penicillin, sau đó liều lượng tăng dần theo thời gian. Trong suốt quá trình giải mẫn cảm, bệnh nhân cần được giám sát liên tục để xử lí kịp thời nếu xảy ra phản ứng dị ứng nghiêm trọng.
Sau khi hoàn thành quá trình điều trị, bệnh nhân cần được theo dõi chặt chẽ bằng xét nghiệm huyết thanh không đặc hiệu treponema nhằm đánh giá hiệu quả điều trị. Thời gian điều trị có thể kéo dài từ 6–18 tháng tùy thuộc vào giai đoạn bệnh và đáp ứng điều trị của từng cá nhân.
Đối với trẻ sơ sinh nghi ngờ mắc bệnh giang mai bẩm sinh do lây nhiễm từ mẹ, trẻ cần điều trị bằng benzyl penicillin hoặc procaine penicillin. Sau khi điều trị, bác sĩ tiếp tục xét nghiệm huyết thanh không đặc hiệu treponema định kì cho trẻ.
Phòng ngừa
Một số biện pháp phòng ngừa lây nhiễm bệnh giang mai bao gồm:
- Sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục
- Xét nghiệm tầm soát hàng năm
- Phụ nữ mang thai nên xét nghiệm giang mai trong tam cá nguyệt đầu tiên
Bên cạnh đó, nếu người bệnh có kết quả xét nghiệm dương tính cần thông báo cho bạn tình để họ có biện pháp phòng ngừa. Đồng thời, người bệnh không nên quan hệ tình dục cho đến khi quá trình điều trị kết thúc và các vết loét lành hoàn toàn.
Bệnh bejel
Độ phổ biến
Bệnh bejel xuất hiện chủ yếu tại các khu vực sa mạc Trung Đông, Trung và Nam Phi. Đa số trường hợp mắc bệnh là trẻ em trên hai tuổi.
Biểu hiện lâm sàng
Bệnh bejel hình thành trên da và xương. Các tổn thương da có thể xuất hiện trên bề mặt, tổn thương phá hủy xương thường khu trú tại xương chày. Bệnh lây nhiễm khi tiếp xúc trực tiếp với dịch từ vết thương hoặc nước bọt của người bệnh.

Ảnh: Triệu chứng của bệnh bejel do vi khuẩn Treponema pallidum gây ra
Nguồn: Pharmaceutical Journal
Bệnh ghẻ cóc
Độ phổ biến
Bệnh ghẻ cóc phổ biến tại các khu vực nhiệt đới của Châu Phi, Nam Mỹ, Ấn Độ, Indonesia và Quần đảo Thái Bình Dương. Bệnh rất dễ lây lan, do đó, người ta ước tính có khoảng 50 triệu trường hợp mắc bệnh trên toàn thế giới. Phần lớn trường hợp mắc bệnh là trẻ em và thanh thiếu niên. Tại những vùng lưu hành bệnh, 75% dân số mắc bệnh ghẻ cóc trước 20 tuổi.
Biểu hiện lâm sàng
Bệnh ghẻ cóc do Treponema pallidum subsp. pertenue gây ra chủ yếu ảnh hưởng đến da, xương và khớp. Bệnh thường khởi phát trên trẻ em sống trong vùng nhiệt đới ẩm ướt và điều kiện vệ sinh kém. Bệnh lây nhiễm khi tiếp xúc trực tiếp với dịch từ vết thương hoặc nước bọt của người bệnh.
Vi khuẩn thường xâm nhập vào màng nhầy trong mắt và miệng. Vi khuẩn có thể phát triển trên màng nhầy, da, cơ và xương. Ban đầu, người bệnh xuất hiện nốt sần nhỏ, sau 2–3 tháng, nốt sần chảy dịch, phát triển thành mụn bọc và cuối cùng lành lại. Các biểu hiện lâm sàng sau đó không rõ ràng.
Lời kết
Vi khuẩn Treponema pallidum gây ra bệnh giang mai, bejel và ghẻ cóc. Chúng dễ dàng xâm nhập vào cơ thể và né tránh hệ miễn dịch nhờ vào cấu trúc đặc biệt. Do đó, Treponema pallidum là mầm bệnh nguy hiểm đối với sức khỏe con người. Vì vậy, chúng ta nên thực hành tình dục an toàn và xét nghiệm định kì hàng năm để ngăn chặn vi khuẩn lây lan. Ngoài ra, người bệnh cần điều trị ngay khi phát hiện mình nhiễm Treponema pallidum nhằm kiểm soát và giảm thiểu tác động của bệnh do vi khuẩn này gây ra.
References
- Centers for Disease Control and Prevention Syphilis. Retrieved September 04, 2024 from https://www.cdc.gov/std/treatment-guidelines/syphilis.htm
- Cleveland Clinic. Syphilis. Retrieved September 04, 2024 from https://my.clevelandclinic.org/health/diseases/4622-syphilis
- Mayo Clinic. Syphilis. Retrieved September 04, 2024 from https://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/syphilis/symptoms-causes/syc-20351756
- National Institute of Health. Treponema pallidum, the syphilis spirochete: making a living as a stealth pathogen. Retrieved September 04, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC5106329/
- National Institute of Health. Syphilis. Retrieved September 04, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK534780/
- National Institute of Health. WHO Guidelines for the Treatment of Treponema pallidum (Syphilis). Retrieved September 04, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK384906/
- National Institute of Health. The Treponema pallidum Outer Membrane. Retrieved September 04, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC5924592/
- World Health Organization Syphilis. Retrieved September 04, 2024 from https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/syphilis
