HIV là gì?
HIV là viết tắt của virus gây suy giảm miễn dịch người (Human Immunodeficiency Virus). HIV thuộc nhóm retrovirus có khả năng lây nhiễm và phá hủy các tế bào trong hệ miễn dịch, chủ yếu tế bào lympho T. Do đó, bệnh nhân dễ mắc bệnh do các tác nhân ngoại nhiễm như vi khuẩn, virus và nấm (bệnh cơ hội). Giai đoạn HIV tiến triển nghiêm trọng dẫn đến hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS).
AIDS là gì?
AIDS là giai đoạn cuối và nghiêm trọng nhất sau khi nhiễm HIV. Bệnh nhân AIDS có lượng tế bào bạch cầu thấp nghiêm trọng. Người dương tính HIV thường tiến triển đến giai đoạn cuối trong vòng 10 năm nếu không được điều trị.

Nguồn: Designua/Shutterstock.com
Biểu hiện lâm sàng
HIV
HIV phá hủy các tế bào CD4 (còn gọi là tế bào T hỗ trợ) trong hệ miễn dịch. CD4 là một loại tế bào bạch cầu lympho có nhiệm vụ bảo vệ cơ thể khỏi các tác nhân gây hại (vi khuẩn, virus). HIV không bị tiêu diệt bởi các tế bào miễn dịch do chúng liên tục thay đổi vỏ bọc bên ngoài.
Giai đoạn đầu nhiễm bệnh, các triệu chứng thường nhầm lẫn với cảm cúm và mệt mỏi.
Một số biểu hiện khi nhiễm bệnh bao gồm:
- Sốt, mệt mỏi
- Đau họng, đau cơ
- Đổ mồ hôi đêm
- Phát ban
- Sưng hạch bạch huyết
- Loét miệng
Sau đó, virus tồn tại tiềm ẩn trong cơ thể người bệnh mà không gây ra bất kỳ vấn đề gì về sức khỏe. Tuy nhiên, các tế bào lympho T dần suy giảm đến mức bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng nghiêm trọng. Phần lớn trường hợp trong giai đoạn này đã tiến triển thành AIDS.
AIDS
Đa số các biểu hiện AIDS do bệnh cơ hội gây ra. Những biểu hiện phổ biến bao gồm:
- Sụt cân đột ngột
- Mệt mỏi
- Loét miệng hoặc bộ phận sinh dục
- Sốt, đổ mồ hôi ban đêm
- Màu da bất thường
AIDS làm tăng nguy cơ mắc ung thư và nhiều bệnh nghiêm trọng khác như ung thư hạch Burkitt, nhiễm nấm Candida, viêm phổi tái phát.
Các giai đoạn của HIV
Giai đoạn 1: HIV cấp tính
Một số bệnh nhân khởi phát các dấu hiệu tương tự cúm sau một đến hai tháng nhiễm HIV. Những triệu chứng này thường tự khỏi trong vòng 1 tuần đến 1 tháng.
Giai đoạn 2: Giai đoạn tiềm ẩn lâm sàng
Sau giai đoạn cấp tính, virus HIV tồn tại trong cơ thể trong nhiều năm mà không gây ra biểu hiện bất thường. Tuy nhiên, bệnh nhân vẫn có thể lây truyền virus sang người khác.
Giai đoạn 3: AIDS
Trong giai đoạn nghiêm trọng nhất này, lượng tế bào CD4 trong máu thấp hơn 200 tế bào/mm3. Những bệnh cơ hội và các dạng ung thư có thể đã biểu hiện.
Độ phổ biến
Người ta ước tính khoảng 39 triệu người mắc HIV trên toàn thế giới (cuối năm 2022). Trong đó, người từ 15–49 tuổi chiếm khoảng 0,7%. Tỉ lệ này có thể khác nhau giữa từng quốc gia và khu vực.
Tại Việt Nam, cả nước có 220.580 người nhiễm HIV hiện đang còn sống và 112.368 bệnh nhân đã tử vong. Báo cáo này được thống kê từ khi các ca mắc đầu tiên được phát hiện năm 1990 tại thành phố Hồ Chí Minh đến tháng 10/2022.
Nguyên nhân
HIV lây truyền qua 3 con đường chính bao gồm máu, quan hệ tình dục và từ mẹ sang con. Do đó, mọi người đều có thể nhiễm bệnh.
Virus hiện diện trong máu, tinh dịch, dịch âm đạo, dịch trực tràng và sữa mẹ. Vì vậy, HIV có thể lây nhiễm qua miệng, hậu môn, dương vật và âm đạo. Virus không thể xuyên qua da, tuy nhiên chúng có thể xâm nhập khi da có vết thương hở.
Quan hệ tình dục không an toàn và dùng chung kim tiêm là nguyên nhân lây truyền HIV phổ biến.
Chẩn đoán
HIV được chẩn đoán thông qua ba loại xét nghiệm phổ biến bao gồm:
- Xét nghiệm kháng nguyên/kháng thể phát hiện protein p24 trong mẫu máu. Protein này hiện diện trên bề mặt virus HIV. Người phơi nhiễm với HIV sau 18 đến 45 ngày có thể thực hiện xét nghiệm.
- Xét nghiệm kháng thể kháng virus HIV trong máu bệnh nhân. Kết quả đáng tin cậy khi thực hiện sau phơi nhiễm từ 23 đến 90 ngày.
- Xét nghiệm axit nucleic (nucleic acid tests) kiểm tra virus hiện diện trong máu. Phương pháp này có thể thực hiện từ 10 đến 33 ngày sau phơi nhiễm.
Trường hợp kết quả dương tính, một số xé nghiệm chuyên biệt có thể được chỉ định nhằm đánh giá sức khỏe bệnh nhân:
- Sàng lọc viêm gan siêu vi
- Chụp X-quang ngực
- Phết tế bào cổ tử cung
- Định lượng CD4
- Lao phổi
Ngoài ra, HIV có thể xét nghiệm tại nhà bằng một số loại kit test thương mại. Kết quả hiển thị trong vòng 15–20 phút.
Điều trị
Hiện nay chưa có phương pháp điều trị hoàn toàn HIV. Các liệu pháp chủ yếu kiềm hãm quá trình phát triển của virus.
Thuốc kháng retrovirus (ARV – Antiretrovirus) được sử dụng kết hợp với một số loại thuốc khác nhằm ngăn chặn HIV nhân lên và phá hủy các tế bào bạch cầu.
Những loại thuốc dùng trong liệu pháp kháng virus (antiretroviral therapy) bao gồm:
- Thuốc ức chế enzyme sao chép ngược nucleoside (NRTI) hoặc non-nucleoside (NNRTI)
- Thuốc ức chế protease (PI)
- Chất ức chế tổng hợp
- Thuốc đối kháng CCR5
- Các chất ức chế chuyển chuỗi tích hợp (INSTIs)
- Kết hợp các loại thuốc điều trị HIV
Nhiễm HIV khi đang mang thai
Người mắc HIV khi mang thai có nguy cơ truyền bệnh sang con rất cao. Virus có khả năng đi qua nhau thai rồi lây nhiễm sang trẻ. Trong quá trình sinh nở, em bé tiếp xúc với virus từ máu và các chất dịch khác của mẹ trong âm đạo. Phần lớn trẻ sơ sinh bị nhiễm HIV trong giai đoạn sinh nở. Cho con bú cũng có thể truyền virus sang bé.
Trong phần lớn trường hợp mang thai, HIV được chẩn đoán thông qua các xét nghiệm máu khi khám thai định kỳ.
Tỉ lệ lây truyền sang con cao, tuy nhiên, một số biện pháp sau làm giảm nguy cơ đến 99% bao gồm:
- Dùng thuốc kháng virus HIV trong thai kì và khi chuyển dạ theo chỉ định của bác sĩ
- Sinh mổ thay vì sinh thường
- Cho trẻ dùng thuốc kháng HIV ngay sau sinh
- Không cho con bú
Thuốc kháng HIV có thể kèm theo một số tác dụng phụ như buồn nôn, chán ăn và thiếu máu. Do đó, mẹ bầu cần được hướng dẫn và theo dõi của bác sĩ trong khi sử dụng. Đồng thời, các mẹ nên thường xuyên xét nghiệm máu theo dõi lượng virus trong cơ thể. Bên cạnh đó, sinh mổ đối với người nhiễm HIV cũng tiềm ẩn nguy cơ nhiễm trùng cao và vết thương lâu lành.
Phòng ngừa
Các phương pháp làm giảm nguy cỡ nhiễm HIV bao gồm:
- Quan hệ tình dục an toàn (chung thủy một bạn tình, sử dụng bao cao su)
- Không dùng bao cao su nguồn gốc động vật (như da cừu non)
- Sử dụng chất bôi trơn gốc nước
- Không dùng chung kim tiêm
- Trường hợp nguy cơ phơi nhiễm cao, người bệnh cần tham khảo ý kiến bác sĩ và dùng thuốc dự phòng trước phơi nhiễm (PrEP) hoặc sau phơi nhiễm (PEP) theo chỉ định
- Thực hiện xét nghiệm nhằm tránh lây nhiễm cho người khác
Những loại thuốc giúp phòng ngừa HIV đối với người có nguy cơ phơi nhiễm cao hoặc đã phơi nhiễm. Điều trị dự phòng trước (PrEP) và sau phơi nhiễm (PEP) là hai liệu pháp chính.
PrEP
PrEP (pre-exposure prophylaxis) là thuốc uống điều trị dự phòng trước phơi nhiễm cho người có nguy cơ cao. Thuốc có hiệu quả phòng ngừa lây nhiễm HIV qua đường tình dục đến hơn 90%.
PrEP được khuyến cáo cho tất cả đối tượng không nhiễm HIV (như một biện pháp phòng ngừa) hoặc người đã quan hệ tình dục qua âm đạo, hậu môn trong vòng 6 tháng.
Ngoài ra, thuốc được chỉ định cho người có một trong số các vấn đề sau:
- Bạn tình dương tính HIV
- Quan hệ tình dục không an toàn
- Chẩn đoán mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục (sexually transmitted infection – STI) trong vòng 6 tháng
- Sử dụng ma túy, dùng chung kim tiêm với người mắc HIV
PrEP không thay thế cho các biện pháp phòng ngừa khác.
PEP
PEP (Post-Exposure Prophylaxis) là thuốc ngăn ngừa HIV ngay sau phơi nhiễm. Đối tượng được chỉ định bao gồm người âm tính HIV (hoặc chưa xác định được) nhưng đã phơi nhiễm với virus (do quan hệ không an toàn, tấn công tình dục, dùng chung dụng cụ y tế).
Thuốc được sử dụng trong 72 giờ sau khi phơi nhiễm và dùng liên tục 28 ngày sau đó. PEP chỉ dành cho trường hợp khẩn cấp và không thay thế các biện pháp phòng ngừa khác.
Kết luận
HIV là virus gây suy giảm miễn dịch trên con người, nó lây truyền chủ yếu qua đường máu và tình dục. Nếu không được điều trị kịp thời, HIV tiến triển thành AIDS dẫn đến nguy cơ tử vong cao. Trường hợp sau khi phơi nhiễm với virus (quan hệ không an toàn, giẫm phải kim tiêm) cần đến ngay cơ sở y tế để điều trị dự phòng.
References
- U.S National Library of Medicine. HIV. Retrieved 31 July 2023 from https://medlineplus.gov/hiv.html
- Children's Hospital of Philadelphia. HIV/AIDS. Retrieved 31 July 2023 from https://www.chop.edu/conditions-diseases/hivaids
- Cleveland Clinic. HIV & AIDS. Retrieved 31 July 2023 from https://my.clevelandclinic.org/health/diseases/4251-hiv-aids
- KidsHealth. What Are HIV and AIDS? Retrieved 31 July 2023 from https://kidshealth.org/en/kids/hiv.html
- Mayo Clinic. HIV/AIDS. Retrieved 31 July 2023 from https://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/hiv-aids/symptoms-causes/syc-20373524
- MSD Manuals. Human Immunodeficiency Virus (HIV) Infection. Retrieved 31 July 2023 from https://www.msdmanuals.com/home/infections/human-immunodeficiency-virus-hiv-infection/human-immunodeficiency-virus-hiv-infection
- Radiopaedia. HIV/AIDS. Retrieved 31 July 2023 from https://radiopaedia.org/articles/hivaids
