1.Khi những con số gióng lên hồi chuông cảnh báo
2–8% là tỉ lệ thai kì trên toàn thế giới hiện nay có liên quan đến tiền sản giật.
25% là mức gia tăng của bệnh lí này trong vòng hai thập kỉ qua.
Tại Việt Nam, con số này không hề nhỏ khi 2,8–5,5% thai kì được ghi nhận tiền sản giật với xu hướng tăng dần theo thời gian.
Những con số tưởng chừng khô khan này đang kể một câu chuyện đáng lo ngại và chứng minh tiền sản giật không còn là một biến chứng hiếm gặp.

Nguồn: ihope
Mang thai vốn là một hành trình kì diệu, nơi một sự sống mới được nuôi dưỡng từng ngày trong cơ thể người mẹ. Tuy nhiên, song hành với niềm hạnh phúc ấy, vẫn luôn tồn tại những nguy cơ âm thầm, tiền sản giật chính là một trong những biến chứng nguy hiểm nhất có thể xuất hiện mà không báo trước.
Trong nhiều năm qua, tiền sản giật thường được xem là tình trạng chỉ xảy ra trong một số thai kì đặc biệt, tuy nhiên, khi các nhà khoa học nhìn lại dữ liệu qua nhiều thập kỉ, một xu hướng rõ ràng dần hiện ra cho thấy bệnh đang gia tăng cả về số lượng lẫn mức độ ảnh hưởng. Các rối loạn tăng huyết áp trong thai kì hiện đã trở thành một trong những nguyên nhân hàng đầu gây biến chứng nặng và tử vong mẹ.
Đằng sau mỗi tỉ lệ phần trăm là hàng triệu thai phụ, là những nguy cơ sinh non, thai chậm phát triển, hay thậm chí những biến chứng đe dọa tính mạng. Khi ghép nối các số liệu từ nhiều quốc gia, bức tranh không còn rời rạc mà trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết. Tiền sản giật đang dần trở thành một vấn đề sức khỏe cộng đồng mang tính toàn cầu, chính những con số đầy sức nặng ấy đang gióng lên những hồi chuông cảnh báo ngày càng rõ ràng hơn.
2.Tiền sản giật không còn là hiện tượng hiếm gặp
Nếu nhìn vào bức tranh dịch tễ học toàn cầu, có thể thấy tiền sản giật và các rối loạn tăng huyết áp trong thai kì đang xuất hiện ngày càng nhiều trong thực hành sản khoa. Theo dữ liệu từ Nghiên cứu Gánh nặng Bệnh tật Toàn cầu, số ca mắc mới các rối loạn tăng huyết áp trong thai kì đã tăng từ 31,33 triệu ca năm 1990 lên 36,10 triệu ca vào năm 2021. Con số này phản ánh sự gia tăng đáng kể chỉ trong ba thập kỉ. Không chỉ vậy, tổng số phụ nữ đang phải sống chung với các rối loạn này cũng tăng mạnh theo thời gian. Nếu năm 1990 toàn cầu ghi nhận khoảng 6,15 triệu trường hợp, đến năm 2021 con số này đã tăng lên hơn 36 triệu ca.
Một số quốc gia phát triển cũng ghi nhận xu hướng tương tự. Tại Hoa Kỳ, tỉ lệ các rối loạn tăng huyết áp trong thai kì đã tăng từ 2,79% năm 1989 lên 8,22% vào năm 2020, gần gấp ba lần chỉ trong hơn một thế hệ. Tuy nhiên, gánh nặng của tiền sản giật không phân bố đồng đều. Tại những khu vực có điều kiện kinh tế-xã hội thấp hơn, nơi khả năng tiếp cận chăm sóc thai sản còn hạn chế, số ca mắc và biến chứng thường cao hơn đáng kể.
Ngược lại, tại các quốc gia có hệ thống chăm sóc thai sản phát triển, tỉ lệ tử vong đã giảm rõ rệt nhờ phát hiện sớm và quản lí thai kì nguy cơ cao hiệu quả hơn. Trên toàn cầu, số ca tử vong liên quan đến các rối loạn tăng huyết áp thai kì đã giảm khoảng 30% trong giai đoạn 1990–2019. Dù vậy, khi nhìn vào xu hướng chung, các chuyên gia đều đồng thuận rằng tiền sản giật đang trở nên phổ biến hơn trước đây.
3.Tiền sản giật tại Việt Nam
Tương tự như nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam đang chứng kiến sự hiện diện ngày càng rõ nét của tiền sản giật trong lâm sàng. Các nghiên cứu trong nước cùng với tài liệu hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế cho thấy bệnh lí này không còn là biến chứng hiếm gặp, mà nó đã trở thành một trong những vấn đề sức khỏe thai kì cần được theo dõi chặt chẽ.
Tỉ lệ mắc bệnh
Theo các nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn 2012–2016, tỉ lệ tiền sản giật tại Việt Nam dao động từ 2,8% đến 5,5% tổng số ca. Con số này nằm trong khoảng trung bình của thế giới, song nó vẫn phản ánh gánh nặng đáng kể đối với hệ thống chăm sóc sản khoa, đặc biệt tại các cơ sở y tế tuyến cuối, nơi tiếp nhận nhiều trường hợp thai kì nguy cơ sản giật cao.
Khác biệt theo thời điểm khởi phát
Phân tích theo tuổi thai cho thấy tiền sản giật có thể xuất hiện trong nhiều giai đoạn khác nhau của thai kì, với mức độ nguy hiểm cũng khác nhau. Trong đó:
- Tiền sản giật khởi phát sớm (trước 34 tuần): khoảng 0,43%
- Tiền sản giật từ 34 đến 37 tuần: khoảng 0,70%
- Tiền sản giật sau 37 tuần (thai đủ tháng): khoảng 1,68%
Dù nhóm khởi phát sớm có tỉ lệ thấp hơn, đây lại là dạng bệnh thường liên quan đến các biến chứng nặng cho cả mẹ và thai nhi như sinh non hoặc suy thai.
Việt Nam trong bối cảnh khu vực và toàn cầu
Nhìn trong bối cảnh rộng hơn, Việt Nam không nằm ngoài xu hướng chung của khu vực châu Á và thế giới. Tại châu Á, tỉ lệ tiền sản giật khởi phát sớm đã tăng từ 0,5% lên 0,8% trong giai đoạn 2001–2014. Trên phạm vi toàn cầu, nhiều phân tích dịch tễ học cũng cho thấy tỉ lệ tiền sản giật đã tăng khoảng 25% trong hai thập kỉ gần đây, đặc biệt tại nhóm khởi phát sớm. Xu hướng này phần nào phản ánh những thay đổi trong xu hướng mang thai thời hiện đại, bao gồm tuổi sinh con muộn hơn, sự gia tăng của béo phì và các bệnh lí mạn tính trong cộng đồng.
Gánh nặng bệnh tật
Mặc dù công tác chăm sóc tiền sản tại Việt Nam đã có nhiều cải thiện, tiền sản giật và sản giật vẫn là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho người mẹ và thai lưu. Ước tính, các rối loạn tăng huyết áp trong thai kì chiếm khoảng 14% các trường hợp tử vong trên người mẹ. Đối với thai nhi, tiền sản giật có thể gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng. Thai chậm tăng trưởng trong tử cung được ghi nhận trong khoảng 10–25% trường hợp, trong khi sinh non liên quan đến 15–67% các ca tử vong chu sinh. Những con số này cho thấy tác động sâu rộng của bệnh không chỉ đối với sức khỏe của người mẹ mà còn đối với sự sống và sự phát triển của trẻ sơ sinh.
Hệ quả sức khỏe lâu dài
Không chỉ dừng lại tại thời điểm mang thai, tiền sản giật còn để lại những hệ quả lâu dài đối với sức khỏe của người phụ nữ. Nhiều nghiên cứu cho thấy phụ nữ từng mắc tiền sản giật có nguy cơ cao hơn mắc bệnh tim mạch, bệnh thận mạn tính và các rối loạn chuyển hóa trong những năm sau đó.
Nỗ lực kiểm soát và phòng ngừa
Trước thực trạng này, ngành y tế Việt Nam đã tăng cường nhiều biện pháp nhằm phát hiện và phòng ngừa sớm bệnh. Đáng chú ý, Bộ Y tế đã ban hành hướng dẫn chuyên môn mới vào năm 2024, trong đó nhấn mạnh công tác tích hợp sàng lọc tiền sản giật thường qui vào qui trình khám thai cho tất cả thai phụ. Chiến lược này tập trung vào đánh giá nguy cơ và dự phòng từ ba tháng đầu thai kì nhằm phát hiện sớm và can thiệp kịp thời đối với những trường hợp có nguy cơ cao. Những bước đi này cho thấy Việt Nam đang từng bước chủ động hơn nhằm đối phó với tiền sản giật, một thách thức ngày càng rõ rệt của y tế sản khoa hiện đại.
4.Tiền sản giật không chỉ là tăng huyết áp
Trong nhận thức của nhiều người, tiền sản giật thường được hiểu đơn giản là tình trạng tăng huyết áp trong thai kì. Tuy nhiên, trên thực tế đây là một bệnh lí phức tạp và nguy hiểm với khả năng ảnh hưởng đến nhiều cơ quan trong cơ thể và gây ra hàng loạt biến chứng nghiêm trọng cho cả mẹ và thai nhi. Nếu không được phát hiện và kiểm soát kịp thời, tiền sản giật có thể nhanh chóng tiến triển thành các biến chứng đe dọa tính mạng, đồng thời để lại những di chứng kéo dài nhiều năm sau sinh.

Nguồn: ihope
Biến chứng cấp tính đối với mẹ
Tiền sản giật nặng có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm trong thời gian ngắn. Một trong những biến chứng điển hình là sản giật, khi người mẹ biểu hiện các cơn co giật khu trú hoặc toàn thân, thậm chí rơi vào hôn mê. Đây là tình trạng cấp cứu sản khoa có thể gây tử vong nếu không được xử trí kịp thời.
Một biến chứng khác thường gặp là hội chứng HELLP với ba biểu hiện chính gồm tan máu, tăng men gan và giảm tiểu cầu. Hội chứng này có thể dẫn đến rối loạn đông máu, xuất huyết nặng và suy đa cơ quan.
Tiền sản giật còn có thể gây tổn thương nhiều cơ quan quan trọng trong cơ thể. Người bệnh có thể gặp suy thận cấp, suy chức năng gan, xuất huyết gan hoặc thậm chí vỡ gan—một biến chứng hiếm nhưng cực kì nguy hiểm. Hệ thần kinh trung ương cũng có thể bị ảnh hưởng, dẫn đến các biến cố như đột quỵ, nhồi máu não, xuất huyết não, phù não hoặc mù vỏ não. Đối với hệ tim mạch và hệ hô hấp, tiền sản giật có thể gây phù phổi cấp, hội chứng suy hô hấp cấp (ARDS), nhồi máu cơ tim hoặc bệnh cơ tim chu sản. Ngoài ra, bệnh còn làm tăng nguy cơ rau bong non, khi bánh rau tách sớm khỏi thành tử cung gây chảy máu ồ ạt, đe dọa tính mạng cả mẹ và thai nhi.
Ảnh hưởng nghiêm trọng với thai nhi
Tiền sản giật không chỉ tác động đến sức khỏe của người mẹ mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của thai nhi. Nguyên nhân chủ yếu là do sự suy giảm tuần hoàn tử cung và nhau thai nên thai nhi không nhận đủ oxy và chất dinh dưỡng cần thiết. Một trong những biến chứng phổ biến là tình trạng thai chậm tăng trưởng trong tử cung (IUGR/FGR) với khoảng 10–25% các trường hợp tiền sản giật. Trong nhiều trường hợp, thai nhi phát triển kém hơn so với tuổi thai, dẫn đến cân nặng thấp khi sinh và nguy cơ biến chứng sau sinh.
Sinh non là hậu quả thường gặp nhất của tiền sản giật, nó là nguyên nhân trực tiếp của 15–67% các ca chu sinh. Trên phạm vi toàn cầu, tiền sản giật và sản giật cũng được ước tính là nguồn gốc của hơn 500.000 ca tử vong thai nhi mỗi năm. Khi tình trạng bệnh của người mẹ trở nên nghiêm trọng, bác sĩ buộc phải chấm dứt thai kì sớm để đảm bảo an toàn cho mẹ, khiến em bé buộc phải chào đời trước khi đủ tháng. Ngoài ra, các bất thường như thiểu ối, suy thai hoặc rối loạn nhịp tim thai cũng thường xảy ra khi bệnh tiến triển nặng.
Hệ quả sức khỏe lâu dài
Ảnh hưởng của tiền sản giật không kết thúc sau khi thai kì chấm dứt. Nhiều nghiên cứu cho thấy phụ nữ từng mắc tiền sản giật có nguy cơ cao hơn mắc nhiều bệnh lí mạn tính trong tương lai. Ví dụ, sản phụ từng mắc tiền sản giật có nguy cơ bệnh thận mạn tính giai đoạn cuối cao gấp khoảng 4,7 lần so với người không mắc bệnh. Ngoài ra, tiền sản giật còn làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, bao gồm bệnh tim thiếu máu cục bộ, suy tim, bệnh động mạch ngoại biên và đột quỵ. Mức độ của các nguy cơ này thường tỉ lệ thuận với mức độ nặng của tiền sản giật trong thai kì.
Các nghiên cứu cũng cho thấy tiền sản giật có liên quan đến rối loạn chuyển hóa, nó làm tăng khả năng mắc đái tháo đường và hội chứng chuyển hóa trong những năm sau sinh. Đáng chú ý, phụ nữ có tiền sử tiền sản giật còn có nguy cơ sa sút trí tuệ do mạch máu cao gấp khoảng 3 lần khi về già. Không chỉ người mẹ, trẻ em sinh ra từ thai kì có tiền sản giật cũng có nguy cơ cao hơn mắc bệnh tim mạch và tăng huyết áp phổi khi bước vào tuổi thiếu niên và trưởng thành.
Gánh nặng y tế toàn cầu
Những hậu quả trên cho thấy tiền sản giật không chỉ đơn thuần là một rối loạn huyết áp tạm thời trong thai kì, mà còn là một bệnh lí có thể ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe của hai thế hệ. Trên toàn cầu, tiền sản giật được ước tính chiếm khoảng 16% nguyên nhân tử vong cho người mẹ. Chính vì vậy, chẩn đoán sớm, theo dõi thai kì chặt chẽ và quản lí nguy cơ từ sớm được xem là những yếu tố then chốt nhằm giảm thiểu các biến chứng nghiêm trọng và bảo vệ sức khỏe cho cả mẹ và trẻ.
5.Vì sao tiền sản giật có xu hướng gia tăng trong những năm vừa qua?
Xu hướng kết hôn và mang thai muộn
Một trong những thay đổi rõ rệt nhất là giới trẻ càng ngày càng trì hoãn sinh con. Tại nhiều quốc gia, số phụ nữ mang thai tại độ tuổi trên 35 hoặc thậm chí trên 40 đang tăng nhanh. Tại nhóm tuổi này, nguy cơ tiền sản giật cao hơn do hệ mạch máu có thể đã bắt đầu xuất hiện các thay đổi như xơ vữa động mạch, đồng thời dễ đi kèm với các bệnh lí nền như béo phì, tăng huyết áp hay đái tháo đường.

Nguồn: ihope
Béo phì và các hội chứng chuyển hóa
Song song với đó là sự gia tăng của tình trạng thừa cân và béo phì trước khi mang thai, một trong những yếu tố hàng đầu làm tăng nguy cơ mắc tiền sản giật. Tại một số quốc gia phát triển, hơn 50% trường hợp tiền sản giật xảy ra trên phụ nữ thừa cân hoặc béo phì. Nguy cơ mắc bệnh tăng theo chỉ số khối cơ thể (BMI). Ví dụ, phụ nữ có BMI từ 40 kg/m² trở lên có nguy cơ tiền sản giật và sinh non cao gấp khoảng 5,23 lần so với phụ nữ có cân nặng bình thường.
Sự phổ biến của các kĩ thuật hỗ trợ sinh sản
Sự phát triển của các kĩ thuật hỗ trợ sinh sản, đặc biệt là thụ tinh trong ống nghiệm (IVF), cũng góp phần gia tăng tỉ lệ tiền sản giật. Các nghiên cứu cho thấy thai kì đạt được nhờ các phương pháp hỗ trợ sinh sản có nguy cơ cao hơn mắc các rối loạn tăng huyết áp thai kì, một phần do đặc điểm sinh lí thai kì khác biệt cũng như tỉ lệ đa thai cao hơn.
Sự gia tăng các trường hợp đa thai
Cùng với sự phát triển của kĩ thuật hỗ trợ sinh sản, tỉ lệ đa thai (sinh đôi, sinh ba) cũng tăng lên. Đây là yếu tố nguy cơ rõ rệt đối với tiền sản giật và sản phụ mang đa thai có nguy cơ mắc bệnh cao gấp gần ba lần so với thai đơn do áp lực tuần hoàn lớn hơn.
Mang thai với bệnh lí nền
Một xu hướng khác là ngày càng nhiều phụ nữ bước vào thai kì khi có tiền sử các bệnh lí mạn tính như tăng huyết áp, đái tháo đường (type 1 hoặc type 2) hay bệnh thận. Sự gia tăng của các rối loạn chuyển hóa trong cộng đồng khiến số thai phụ thuộc nhóm nguy cơ cao ngày càng nhiều, qua đó làm tăng gánh nặng tiền sản giật trong các hệ thống y tế phụ sản.
Tác động từ môi trường và thay đổi xã hội
Ngoài các yếu tố cá nhân, môi trường sống và những thay đổi xã hội cũng có thể góp phần vào xu hướng gia tăng của tiền sản giật. Một số nghiên cứu gần đây cho thấy tiếp xúc với ô nhiễm không khí, đặc biệt là các hạt bụi mịn như PM2.5, NO₂ hoặc CO, có liên quan đến nguy cơ cao hơn mắc các rối loạn tăng huyết áp trong thai kì.
Ngoài ra, sự thay đổi trong tiêu chuẩn chẩn đoán cũng phát hiện được nhiều trường hợp hơn trước đây. Các hướng dẫn lâm sàng hiện đại không chỉ dựa vào sự xuất hiện của protein niệu mà còn tính đến các dấu hiệu tổn thương cơ quan đích như gan, thận, thần kinh hay huyết học. Điều này giúp phát hiện bệnh sớm hơn cũng như làm tăng số ca được mắc. Ngoài ra, quá trình đô thị hóa nhanh chóng, sự thay đổi lối sống và các yếu tố sức khỏe cộng đồng khác tại nhiều quốc gia đang phát triển cũng được xem là những yếu tố gián tiếp góp phần làm tăng nguy cơ tiền sản giật.
6.Tổng kết
Những thống kê trong nhiều năm qua cho thấy tiền sản giật không còn là biến chứng hiếm gặp, mà nó đang trở thành một thách thức ngày càng rõ rệt đối với sản khoa hiện đại. Tuy nhiên, tin tốt là ngày nay y học đã có nhiều phương pháp dự báo nguy cơ và phát hiện bệnh sớm hơn. Xét nghiệm sàng lọc tiền sản giật ngay từ 3 tháng đầu thai kì có thể nhận diện những thai phụ có nguy cơ cao, từ đó họ được theo dõi và can thiệp kịp thời. Trong quá trình mang thai, phát hiện sớm luôn là chìa khóa quan trọng nhất. Bởi đôi khi, chỉ một xét nghiệm đúng thời điểm cũng có thể thay đổi toàn bộ cục diện của thai kì, mang lại sự yên tâm cho người mẹ và một khởi đầu an toàn hơn cho em bé.
References
- Bộ Y tế. Quyết định số 1154/QĐ-BYT, ngày 4 tháng 5 năm 2024, về việc ban hành tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn sàng lọc, chẩn đoán và xử trí tăng huyết áp ở phụ nữ mang thai, tiền sản giật và sản giật”. Hà Nội.
- Sarosh Rana, Elizabeth Lemoine, Joey P. Granger, S. Ananth Karumanchi. 2019. Preeclampsia, Pathophysiology, Challenges, and Perspectives. Circ Res. 2019;124:1094-1112. DOI: 10.1161/CIRCRESAHA.118.313276
- Omar M. Young, Roxanna Twedt, and Janet M. Catov. 2016. Pre-Pregnancy Maternal Obesity and the Risk of Preterm Preeclampsia in the American Primigravida. Obesity (2016) 24, 1226-1229. DOI: 10.1002/OBY.21412
- Ann M. Bruno, MD, Amanda A. Allshouse, MS, Torri D. Metz, MD, MS, Lauren H. Theilen, MD, MS. Trends in hypertensive disorders of pregnancy in the U.S. from 1989 to 2020. Obstet Gynecol. 2022 July 01; 140(1): 83–86. DOI: 10.1097/AOG.0000000000004824
- Wei Wang, Xin Xie, Ting Yuan, Yanyan Wang, Fei Zhao, Zhangjian Zhou and Hao Zhang. Epidemiological trends of maternal hypertensive disorders of pregnancy at the global, regional, and national levels: a population‐based study. BMC Pregnancy and Childbirth (2021) 21:364. DOI: 10.1186/S12884-021-03809-2
- Shu Sun, Wangshu Li, Xu Zhang, Aziz ur Rehman Aziz & Na Zhang. Trends in global and regional incidence and prevalence of hypertensive disordersin pregnancy (1990–2021): an age-period-cohort analysis. Nature portfolio. Scientific reports. (2025) 15:1513. DOI: 10.1038/S41598-025-85819-0
