Tiền sản giật là gì?
Tiền sản giật là biến chứng trong thai kì có thể xảy ra từ tuần thai thứ 20 đến gần thời điểm sinh. Tình trạng này dẫn đến tăng huyết áp, nồng độ protein trong nước tiểu cao bất thường (protein niệu). Tiền sản giật chiếm khoảng 2–8% các biến chứng liên quan đến thai kì, gây ra hơn 50.000 ca tử vong đối với mẹ và hơn 500.000 ca tử vong thai nhi mỗi năm trên toàn thế giới.
Nguyên nhân cụ thể gây ra tiền sản giật hiện vẫn chưa rõ ràng. Khi mang thai, lượng máu mẹ thường tăng lên để nuôi dưỡng thai nhi. Đối với một số phụ nữ, cơ thể không phản ứng với các thay đổi này như bình thường, dẫn đến xuất hiện những triệu chứng và dấu hiệu của tiền sản giật.

Nguồn: ihope
Một số yếu tố có thể làm tăng nguy cơ tiền sản giật bao gồm:
- Mang thai lần đầu
- Mang đa thai (sinh đôi, sinh ba,…)
- Béo phì
- Các bệnh nền như cao huyết áp, tiểu đường hoặc bệnh thận
- Tiền sử gia đình có người mắc tiền sản giật
Xét nghiệm tiền sản giật
Bác sĩ thường chẩn đoán tiền sản giật trong các buổi khám thai định kì.
Trong trường hợp thai phụ có dấu hiệu tiền sản giật, bác sĩ sẽ chỉ định:
- Xét nghiệm máu nhằm kiểm tra chức năng thận và gan
- Thu mẫu nước tiểu trong 24 giờ để theo dõi nồng độ protein trong nước tiểu
- Siêu âm thai nhằm đánh giá kích thước của thai và lượng nước ối
Tiền sản giật nhẹ xảy ra khi thai phụ tăng huyết áp kèm nồng độ protein trong nước tiểu cao.
Trường hợp nặng có các dấu hiệu của tiền sản giật nhẹ cùng với một số triệu chứng khác như:
- Tổn thương thận hoặc gan
- Số lượng tiểu cầu thấp
- Ứ dịch trong phổi
- Đau đầu và chóng mặt
- Giảm thị lực hoặc nhìn thấy đốm sáng
Các phương pháp xét nghiệm tiền sản giật
Hiện nay, có nhiều phương pháp hỗ trợ chẩn đoán tiền sản giật bao gồm:
Đo huyết áp
Huyết áp cao là một trong những dấu hiệu phổ biến của tiền sản giật. Thai phụ được chẩn đoán tăng huyết áp khi có hai lần đo huyết áp từ 140/90 mmHg trở lên, cách nhau ít nhất 4 giờ trong vòng một tuần. Bệnh nhân cần ngồi thẳng và nghỉ ngơi ít nhất 10 phút trước khi đo huyết áp.
Tuy nhiên, do tiền sản giật có thể ảnh hưởng đến nhiều cơ quan nên tăng huyết áp không nhất thiết phải là triệu chứng xuất hiện đầu tiên. Thai phụ vẫn có nguy cơ tiền sản giật mặc dù không phát hiện huyết áp cao.
Siêu âm
Bác sĩ có thể chỉ định siêu âm Doppler động mạch rốn để đánh giá lưu lượng máu giữa mẹ và thai nhi thông qua chỉ số xung (Pulsatility Index- PI). Chỉ số này thể hiện mức độ cản trở dòng máu trong động mạch tử cung, hỗ trợ bác sĩ chẩn đoán tiền sản giật. PI cao cho thấy sức cản mạch máu tăng, nghĩa là dòng máu lưu thông kém. Siêu âm Doppler động mạch tử cung có thể được thực hiện qua thành bụng hoặc qua đường âm đạo.
Ngoài ra, độ mờ da gáy và chiều dài đầu-mông là những yếu tố hỗ trợ chẩn đoán khác. Chiều dài đầu-mông là dữ liệu để bác sĩ dự đoán tuổi thai, từ đó đưa ra những chẩn đoán chính xác hơn về các chỉ số khác. Độ mờ da gáy thể hiện phần dịch tích tụ tại vùng gáy của thai nhi, được xác định kèm với độ dài đầu-mông trong tam cá nguyệt thứ nhất. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng độ mờ da gáy có liên quan đến tăng huyết áp thai kì và tiền sản giật.

Nguồn: A.D.A.M
Xét nghiệm công thức máu toàn phần
Bác sĩ chỉ định lấy máu của thai phụ nhằm xét nghiệm như công thức máu toàn phần và xác định số lượng tiểu cầu. Giảm tiểu cầu là dấu hiệu để chẩn đoán tiền sản giật. Trong trường hợp tiền sản giật thể nặng (chẳng hạn như trong hội chứng HELLP), các tế bào hồng cầu có thể bị tổn thương hoặc phá hủy, dẫn đến thiếu máu tán huyết.
Xét nghiệm nước tiểu
Đối với người khỏe mạnh, thận hoạt động bình thường nên không có nhiều protein đi vào nước tiểu. Nếu protein được phát hiện trong que thử nước tiểu, bác sĩ có thể yêu cầu thu toàn bộ lượng nước tiểu trong vòng 12 hoặc 24 giờ nhằm xác định lượng protein thải ra. Lượng protein, đặc biệt là creatinin, vượt quá 300mg/ngày có thể là dấu hiệu của tiền sản giật. Tuy nhiên, chỉ số này không phản ánh mức độ nghiêm trọng hay khả năng tiến triển của bệnh.
Xem thêm: Xét nghiệm nước tiểu

Nguồn: A.D.A.M
Xét nghiệm chức năng gan
Bên cạnh xét nghiệm xác định lượng tiểu cầu, bác sĩ còn sử dụng mẫu máu nhằm kiểm tra nồng độ các enzyme trong gan hay còn gọi là men gan, qua đó đánh giá chức năng gan. Men gan tăng cao là một trong những dấu hiệu giúp chẩn đoán tiền sản giật. Tuy nhiên, hiện nay người ta chưa thống nhất ngưỡng xác định men gan cao.
Xem thêm: Xét nghiệm chức năng gan

Nguồn: A.D.A.M
Xét nghiệm sFLT-1 và PlGF
sFLT-1 và PlGF là hai protein giữ vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển của mạch máu. Bác sĩ thu máu của người bệnh, sau đó ly tâm để tách lấy huyết thanh và xác định hàm lượng sFLT-1 và PlGF. Tỉ lệ sFlt-1/PlGF tăng cao trong giai đoạn đầu thai kì có thể là dấu hiệu của tiền sản giật.

Nguồn: Cell Guidance Systems
Lời kết
Tiền sản giật là một trong những biến chứng nguy hiểm trong thai kì, có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của mẹ và con. Do đó, thai phụ nên tầm soát tiền sản giật ngay từ tam cá nguyệt đầu tiên để phát hiện sớm nguy cơ, từ đó bác sĩ có thể đưa ra hướng theo dõi và can thiệp phù hợp.
References
- National Library of Medicine. Preeclampsia. Retrieved October 8, 2025 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK570611/
- World Health Organization. Pre-eclampsia. Retrieved October 8, 2025 from https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/pre-eclampsia
- Medscape. Preeclampsia. Retrieved October 8, 2025 from https://emedicine.medscape.com/article/1476919-overview
- Cleveland Clinic. Preeclampsia. Retrieved October 8, 2025 from https://my.clevelandclinic.org/health/diseases/17952-preeclampsia
