Sarcoma mô mỡ (liposarcoma) thuộc nhóm sarcoma mô mềm. Chúng là các khối u ác tính phát triển tại mô mỡ và có thể di căn đến nhiều vị trí khác trong cơ thể. Sarcoma mỡ được phân loại thành 4 dạng, mỗi dạng có tốc độ phát triển và khả năng di căn khác nhau, do đó chúng dẫn đến triệu chứng khác nhau giữa từng bệnh nhân.
Sarcoma mô mỡ là gì?
Sarcoma mô mỡ là khối u bắt nguồn từ mô mỡ. Chúng xuất hiện tại nhiều vị trí trong cơ thể, chủ yếu quanh tay, chân và đùi. Ngoài ra, khối u cũng phát triển sau phúc mạc vì vị trí này có thể chứa khối u với kích thước và khối lượng lớn.
Sarcoma mô mỡ hiếm gặp, tuy nhiên, chúng là dạng sarcoma mô mềm phổ biến nhất đối với người trưởng thành. Khối u thường phát triển chậm dưới niêm mạc, không gây đau và loét. Trong một số trường hợp, khối u có thể phát triển nhanh và gây loét.

Nguồn: Mayo Clinic
Phân loại

Nguồn: WebPathology
Sarcoma mô mỡ được phân thành 4 nhóm bao gồm.
Dạng biệt hoá hoàn toàn
Dạng biệt hóa hoàn toàn là dạng sarcoma mô mỡ phổ biến nhất, chiếm khoảng 30–50% trong tổng số các trường hợp. Dạng này thường xuất hiện đối với bệnh nhân trên 50 tuổi. Tế bào ung thư có các đặc điểm tương tự tế bào mô mỡ bình thường. Khối u phát triển chậm tại tay, chân hoặc sau phúc mạc, không gây đau và không di căn. Trong một số trường hợp, khối u sau phúc mạc có thể xuất hiện tại vùng bẹn khiến bệnh nhân nhầm lẫn với thoát vị bẹn . Khoảng 17% khối u sau phúc mạc và 6% khối u tay/chân của dạng này có thể tiến triển thành dạng phản biệt hoá.

Ảnh: Thoát vị bẹn
Nguồn: Cleveland Clinic
Dạng phản biệt hoá
Tế bào phản biệt hoá mất các đặc điểm của tế bào mô mỡ, chúng chuyển sang trạng thái giống tế bào gốc với tốc độ tăng sinh cao. Do đó, khối u phát triển nhanh. Tế bào phản biệt hoá thường tiến triển từ khối u biệt hoá hoàn toàn sau phúc mạc. Ngoài ra, chúng cũng có thể xuất hiện mới tại tay và chân. Sarcoma mô mỡ phản biệt hoá có tỉ lệ tái phát và di căn lần lượt là 40–75% và 10–15%, cao hơn so với những dạng khác. Khoảng 44% bệnh nhân có thể sống thêm 5 năm sau khi được chẩn đoán.
Dạng nhầy/tế bào tròn
Dạng nhầy/tế bào tròn là dạng sarcoma mô mỡ phổ biến thứ hai, chiếm khoảng 30–35% trong tổng số các trường hợp. Tế bào ung thư dạng nhầy (cấp độ thấp) phát triển thưa thớt, chúng hình thành mạng lưới gồm nhiều mạch máu và chất nền bao quanh. Chất nền chứa nhiều chất nhầy như hyaluronic acid. Trong khi đó, dạng tế bào tròn (cấp độ cao) phát triển dày đặc hơn, chúng xếp thành từng lớp với nhiều nguyên bào mỡ xen giữa.
Phần lớn bệnh nhân thuộc dạng nhầy/tế bào tròn nằm trong độ tuổi 35–55, tuy nhiên, nhiều trường hợp bệnh nhân trẻ tuổi hơn đã được ghi nhận. Khối u thường phát triển tại chân, chúng có thể di căn đến các mô cơ và da lân cận. Trong một số trường hợp, khối u xuất hiện tại xương chậu, xương sống hoặc các cơ quan như tim, phổi và thực quản.
Dạng đa hình
Sarcoma mô mỡ đa hình là dạng hiếm gặp nhất, chiếm khoảng 5–10% trong tổng số các trường hợp. Bệnh nhân thuộc dạng này đa phần nằm trong độ tuổi 50–70. Tế bào ung thư có nhiều hình thái bất thường khác nhau, chúng thường xuất hiện tại tay và chân. Ngoài ra, tế bào ung thư cũng có thể hiện diện sau phúc mạc hoặc thành ngực. Chúng phát triển rất nhanh, có khả năng tái phát và di căn cao, chủ yếu đến phổi. Người mắc sarcoma mô mỡ dạng này có tiên lượng sống thấp nhất.
Biểu hiện lâm sàng
Người mắc sarcoma mô mỡ có nhiều triệu chứng khác nhau tuỳ thuộc vào kích thước, vị trí, hình dạng khối u cũng như giai đoạn phát triển bệnh. Nhiều người bệnh không có bất kì triệu chứng, mặt khác, một số bệnh nhân có thể cảm nhận cục u hoặc vết sưng bất thường dưới da. Thông thường, người bệnh phát hiện những thay đổi này khi khối u đủ lớn và chèn ép các cơ quan như phổi, ruột hoặc dạ dày.
Một số triệu chứng phổ biến bao gồm:
- U xuất hiện dưới da, quanh hoặc sau đầu gối, trên đùi
- U có kích thước từ 5 cm trở lên
- Đau, sưng, phình bụng
- Tay, chân xuất hiện khối u và yếu hơn bình thường
- Cảm thấy no ngay khi bắt đầu ăn
- Mất cảm giác thèm ăn
- Táo bón
- Phân lẫn máu hoặc kết cấu bất thường
- Chuột rút
- Nôn ra máu
- Khó thở
Độ phổ biến
Theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kì, sarcoma mô mỡ là dạng ung thư mô mềm phổ biến nhất, chiếm 20% trong tổng số các trường hợp. Mỗi năm có khoảng 2000 bệnh nhân mắc sarcoma mô mỡ tại Mĩ, phần lớn là nam giới trong độ tuổi 50–65 tuổi. Trẻ nhỏ hiếm khi mắc sarcoma mô mỡ, tuy nhiên một số trường hợp bệnh nhân thuộc độ tuổi vị thành niên đã được ghi nhận.
Một số yếu tố làm tăng nguy cơ mắc sarcoma mô mỡ bao gồm:
- Xạ trị
- Tiếp xúc với hoá chất độc hại như vinyl chloride
- Mắc một số bệnh di truyền như hội chứng Li-Fraumeni, hội chứng Gardner
- Gia đình có tiền sử mắc bệnh ung thư
- Tổn thương hệ bạch huyết
Nguyên nhân
Một số đột biến dẫn đến các dạng sarcoma mô mỡ bao gồm.
Dạng biệt hoá hoàn toàn và phản biệt hoá
Tế bào người bệnh mang đoạn lặp tại vùng 12q13-15 của nhiễm sắc thể 12. Đoạn lặp này chứa nhiều gen sinh ung thư như MDM2, CDK4, HMGA2 and TSPAN31.
Cụ thể, những gen này tham gia quá trình phát sinh ung thư như sau:
- MDM2: cản trở hoạt động hoặc phân giải chất ức chế khối u p53
- CDK4: đẩy mạnh biểu hiện các gen có chức năng kích hoạt quá trình nhân đôi ADN
- HMGA2: tái cấu trúc ADN, gen này là thành phần quan trọng của phức hợp tăng cường phiên mã gen
- TSPAN31: tham gia đường tín hiệu điều hoà quá trình phát triển, hoạt hoá, tăng trưởng và di chuyển của tế bào
Ngoài ra, đột biến lặp đoạn 1p32 và 6q23 cũng liên quan đến sarcoma mô mỡ dạng phản biệt hoá. Các gen nằm trên đoạn lặp này cung cấp hướng dẫn tạo ra protein c-Jun và ASK1. Protein c-Jun là thành phần của yếu tố kích hoạt phiên mã, chúng tham gia quá trình tăng sinh, chuyển dạng và chết tế bào. Protein ASK1 kích hoạt c-Jun, đồng thời bất hoạt PPARγ—protein tham gia biệt hoá mô mỡ. Vì vậy, hai protein c-Jun và ASK1 tăng biểu hiện có thể dẫn đến quá trình phản biệt hoá của tế bào mô mỡ.

Nguồn: Trends in Endocrinology & Metabolism
Dạng nhầy/tế bào tròn
Đột biến chuyển đoạn giữa vị trí q23 trên nhiễm sắc thể 12 và p11 trên nhiễm sắc thể 16 làm gen DDIT3 liên kết với gen FUS, do đó kích hoạt các yếu tố tăng cường quá trình tăng sinh tế bào. Phức hợp FUS–DDIT3 cản trở quá trình biệt hoá tế bào mô mỡ, đồng thời duy trì trạng thái chưa biệt hoá của các mô mỡ qua nhiều chu kì tăng sinh tế bào. Vì vậy, tế bào tăng sinh nhanh rồi dẫn đến hình thành khối u.
Dạng đa hình
Sarcoma mô mỡ dạng đa hình rất hiếm gặp nên chưa rõ cơ chế gây bệnh. Một số đột biến liên quan đến các gen ức chế khối u như p53, NF1, RB1 có thể là nguyên nhân làm tăng tốc độ phát triển của khối u.
Chẩn đoán
Các phương pháp chẩn đoán sarcoma mô mỡ bao gồm.
Chẩn đoán hình ảnh
Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh phổ biến bao gồm chụp X quang, CT hoặc MRI. Thông qua kết quả chẩn đoán hình ảnh, bác sĩ có thể quan sát và đánh giá kích thước khối u bên trong cơ thể bệnh nhân.
Trong một số trường hợp, bác sĩ có thể yêu cầu người bệnh chụp cắt lớp phát xạ positron. Trong phương pháp này, bệnh nhân được tiêm FDG (một dạng đường phóng xạ nhẹ) vào máu. Chất này chủ yếu tập hợp tại tế bào ung thư, do đó khối u có thể hiện rõ trên phim chụp.
Sinh thiết và xét nghiệm mô học
Sinh thiết là phương pháp sử dụng kim lấy một mẫu nhỏ từ khối u hoặc thu mẫu tế bào trong quá trình phẫu thuật cắt bỏ khối u. Khối u được xử lí với một số hoá chất chuyên dụng, cắt thành từng lớp mô mỏng, quan sát dưới kính hiển vi để xác định hình thái tế bào và chẩn đoán dạng ung thư.

Nguồn: Terese Winslow LLC
Xét nghiệm di truyền
Ngoài ra, người bệnh có thể thực hiện xét nghiệm di truyển để phát hiện các đột biến gen liên quan đến sarcoma mô mỡ, qua đó xác nhận kết quả chẩn đoán.
Điều trị
Sarcoma mô mỡ có nhiều biện pháp điều trị khác nhau tuỳ theo dạng khối u và mức độ di căn. Một số phương pháp điều trị bao gồm.
Phẫu thuật
Phẫu thuật là phương pháp điều trị sarcoma mô mỡ phổ biến nhất. Người bệnh có thể kết hợp phẫu thuật kết hợp với xạ trị hoặc hoá trị. Trong phương pháp này, bác sĩ cắt bỏ khối u và một ít mô bình thường nằm xung quanh khối u nhằm loại bỏ hoàn toàn các tế bào ung thư, qua đó hạn chế nguy cơ tái phát. Trong một số trường hợp, bác sĩ có thể cắt bỏ hoàn toàn một cơ quan của bệnh nhân để tránh tế bào ung thư di căn.
Xạ trị
Phương pháp xạ trị sử dụng các chùm tia phóng xạ nhằm tiêu diệt hoặc phá huỷ tế bào ung thư. Bác sĩ có thể chỉ định xạ trị cho bệnh nhân trước hoặc sau phẫu thuật cắt bỏ khối u. Xạ trị trước phẫu thuật nhằm mục đích thu nhỏ kích thước khối u. Ngược lại, xạ trị sau phẫu thuật có thể tiêu diệt những tế bào ung thư còn sót lại.

Bức xạ được dẫn trực tiếp qua vết mổ vào vị trí cụ thể.
Nguồn: Mayo Clinic
Hoá trị
Phương pháp hoá trị sử dụng các loại thuốc dạng uống hoặc tiêm để tiêu diệt tế bào ung thư. Tuy nhiên, thuốc hoá trị có thể không hiệu quả đối với một số dạng sarcoma mô mỡ. Vì vậy, người bệnh cần thực hiện các xét nghiệm để xác định dạng khối u trước khi thực hiện hóa trị.
Một số loại thuốc hoá trị sử dụng trong điều trị sarcoma mô mỡ bao gồm:
- Erybulin mesylate (Halaven): Ngăn chặn hoạt động phân chia tế bào của tế bào ung thư và tiêu diệt chúng
- Trabectedin (Yondelis): Cản trở quá trình sửa lỗi gen trong tế bào ung thư
Biến chứng sau điều trị
Sau khi điều trị điều trị sarcoma mô mỡ, người bệnh có thể xuất hiện những biến chứng sau:
- Phản ứng với thuốc gây mê
- Mất máu
- Vết thương tại vị trí phẫu thuật không lành
- Nhiễm trùng
- Tổn thương các cơ quan hoặc mô khác trong cơ thể
- Sử dụng thuốc giảm đau không hiệu quả
Lời kết
Sarcoma mô mỡ là dạng ung thư hiếm gặp nhưng rất nguy hiểm. Triệu chứng bệnh thường xuất hiện khi khối u đã lớn và tiến triển đến các giai đoạn sau. Vì vậy, người có bệnh sử cá nhân hoặc gia đình liên quan đến sarcoma mô mỡ cần khám sức khoẻ định kì và thực hiện sàng lọc thường xuyên để được chẩn đoán kịp thời. Ngoài ra, mỗi người cần duy trì lối sống lành mạnh, hạn chế tiếp xúc với hoá chất độc hại và tia phóng xạ để giảm nguy cơ mắc bệnh.
References
- Cleveland Clinic. Liposarcoma. Retrieved March 10, 2025 from https://my.clevelandclinic.org/health/diseases/21142-liposarcoma
- Mayo Clinic. Liposarcoma. Retrieved March 10, 2025 from https://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/liposarcoma/symptoms-causes/syc-20352632
- National Institute of Health. TSPAN31 tetraspanin 31. Retrieved March 10, 2025 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/gene/6302
- National Institute of Health. HMGA2 high mobility group AT-hook 2. Retrieved March 10, 2025 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/gene/8091
- National Institute of Health. Liposarcoma: Molecular Genetics and Therapeutics. Retrieved March 10, 2025 from https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC3021868/
- National Institute of Health. Liposarcoma. Retrieved March 10, 2025 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK538265/
- National Organization for Rare Disorders. Liposarcoma. Retrieved March 10, 2025 from https://rarediseases.org/rare-diseases/liposarcoma/#disease-overview-mainhttps://emedicine.medscape.com/article/1102007
