Bệnh thần kinh ngoại biên, thất điều kèm viêm võng mạc sắc tố (neuropathy, ataxia, and retinitis pigmentosa) là bệnh di truyền chủ yếu ảnh hưởng đến hệ thần kinh. Bệnh thường khởi phát trong giai đoạn sơ sinh và trẻ nhỏ. Các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh nhân thường tiến triển nghiêm trọng hơn theo thời gian.

Nguồn: Encyclopædia Britannica, Inc.
Biểu hiện lâm sàng
Triệu chứng phổ biến của bệnh thần kinh ngoại biên, thất điều kèm viêm võng mạc sắc tố gồm:
- Tê, ngứa ran tay và chân
- Đau các chi
- Yếu cơ
- Mất khả năng giữ thăng bằng và phối hợp hoạt động chân tay
Nhiều người bệnh có biểu hiện mất thị lực do tế bào nhạy cảm với ánh sáng trên võng mạc thoái hóa dần. Hiện tượng này gọi là viêm võng mạc sắc tố.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Ngoài ra, trẻ mắc bệnh thường có dấu hiệu thiểu năng trí tuệ và chậm phát triển. Người lớn tuổi mắc bệnh có thể bị sa sút trí tuệ và suy giảm chức năng nhận thức nghiêm trọng.
Một số triệu chứng khác của người bệnh bao gồm:
- Co giật
- Mất thính lực
- Khuyết tật dẫn truyền tim

Ảnh: Cấu trúc võng mạc
Nguồn: U.S. National Library of Medicine

Ảnh: Mô tả biểu hiện của bệnh nhân trong cơn co cứng và co giật
Nguồn: NEUROSURGERY Neurosurgery.

Ảnh: Điện tâm đồ theo dõi hoạt động và nhịp điệu của tim (EKG)
Nguồn: U.S National Library of Medicine
Độ phổ biến
Hiện nay, chưa có thống kê cụ thể tỉ lệ mắc bệnh thần kinh ngoại biên, thất điều kèm viêm võng mạc sắc tố. Mặt khác, tỉ lệ mắc hội chứng Leigh khoảng 1/40.000 người.
Nguyên nhân
Đột biến gen MT-ATP6 gây ra bệnh thần kinh ngoại biên, thất điều kèm viêm võng mạc sắc tố. Gen MT-ATP6 hiện diện trong ADN ti thể. Ti thể là cấu trúc bên trong tế bào có chức năng chuyển đổi năng lượng từ thức ăn thành dạng tế bào có thể sử dụng. Tuy phần lớn ADN được đóng gói trong nhiễm sắc thể và nằm trong nhân, ti thể cũng có một lượng nhỏ ADN của riêng mình (ADN ti thể).

Nguồn: Darryl Leja, NHGRI
Gen MT-ATP6 cung cấp hướng dẫn tạo ra protein có chức năng duy trì hoạt động của ti thể. Thông thường, ti thể sử dụng oxy và đường đơn để tạo ra adenosine triphosphate (ATP)—nguồn năng lượng chính của tế bào. Protein MT-ATP6 là tiểu phần của enzyme ATP synthase, enzyme này tham gia vào bước cuối cùng trong quá trình sản xuất ATP.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Đột biến gen MT-ATP6 dẫn đến phiên bản protein bất thường, do đó cấu trúc hoặc chức năng của ATP synthase bị thay đổi. Enzyme này hoạt động không hiệu quả nên ti thể tạo ra ATP kém hơn bình thường. Người ta chưa rõ quá trình sản xuất năng lượng trong ti thể bị gián đoạn ảnh hưởng như thế nào đến triệu chứng yếu cơ và mất thị lực của người bệnh.
Đối với các bệnh lí liên quan đến ti thể, mức độ nghiêm trọng của bệnh có thể phụ thuộc vào tỉ lệ phần trăm ti thể mang đột biến. Trường hợp bệnh thần kinh ngoại biên, thất điều kèm viêm võng mạc sắc tố, bệnh nhân thường mang đột biến gen MT-ATP6 trong khoảng 70–90% số lượng ti thể. Khi số lượng ti thể mang đột biến cao hơn (90–95%), người ta phân loại chúng thành hội chứng Leigh. Hội chứng Leigh ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương và gây tổn thương não nghiêm trọng cho người bệnh.
Hai bệnh này cùng chung đột biến di truyền và có thể xuất hiện trong cùng một gia đình. Vì vậy, người ta cho rằng chúng thực chất là một phổ bệnh gồm các biểu hiện lâm sàng tương tự nhau thay vì hai bệnh lí hoàn toàn khác nhau. Do đó, một người mang đột biến gen MT-ATP6 có thể xuất hiện triệu chứng nằm giữa hai bệnh này, không hoàn toàn khớp với một bệnh lí cụ thể nào.
Chẩn đoán
Bệnh thần kinh ngoại biên, thất điều kèm viêm võng mạc sắc tố đực chẩn đoán dựa trên iểu hiện lâm sàng kết hợp với xét nghiệm chuyên biệt và bệnh sử gia đình.
Một số phương pháp chẩn đoán bệnh phổ biến bao gồm:
- Kiểm tra thần kinh bằng điện cơ đồ và nghiệm pháp dẫn truyền thần kinh
- Chụp MRI não để kiểm tra kích thước não và tiểu não
- Khám mắt nhằm đánh giá tình trạng thoái hóa võng mạc
- Xét nghiệm di truyền để phát hiện đột biến gen MT-ATP6
Ngoài ra, bệnh nhân cần được chẩn đoán phân biệt với các bệnh lí khác có biểu hiện tương tự như hội chứng Leigh, bệnh Charcot-Marie-Tooth, viêm võng mặc sắc tố, thiếu pyruvate dehydrogenase và thiếu biotinidase.
Nếu bệnh sử gia đình cho thấy có người mắc bệnh thần kinh ngoại biên, thất điều kèm viêm võng mạc sắc tố, bác sĩ có thể thực hiện chẩn đoán trước sinh cho trẻ thông qua lấy mẫu nhung mao màng đệm hoặc chọc ối. Sau đó, mẫu được đem đi phân tích tế bào học để xác định đột biến. Ngoài ra, xét nghiệm di truyền tiền làm tổ cũng là một phương pháp phổ biến nhằm phát hiện sớm đột biến.

Nguồn: Genetics Generation Asia

Ảnh: Đo điện cơ
Nguồn: Cleveland Clinic

Ảnh: Cấu trúc bên trong của não
Nguồn: Terese Winslow
Điều trị
Hiện nay, chưa có phương pháp điều trị hoàn toàn bệnh thần kinh ngoại biên, thất điều kèm viêm võng mạc sắc tố. Các liệu pháp chủ yếu nhằm giảm nhẹ triệu chứng và cải thiện chất lượng đời sống người bệnh.
Các loại thuốc có thể điều trị triệu chứng bao gồm:
- Natri bicarbonate hoặc natri citrate để điều trị nhiễm toan cấp tính
- Thuốc chống co giật và loạn trương lực như baclofen, gabapentin
- Thuốc chống động kinh
- Chất chống oxy hóa để cải thiện khả năng sản xuất năng lượng của ti thể
- Thuốc ngăn ngừa suy tim và làm giảm bệnh cơ tim
Ngoài ra, người bệnh nên tránh sử dụng những loại thuốc như natri valproate, barbiturat, dichloroacetate và thuốc gây mê vì chúng có thể làm bệnh biểu hiện nghiêm trọng hơn.
Dạng di truyền
Bệnh thần kinh ngoại biên, thất điều kèm viêm võng mạc sắc tố di truyền theo ti thể (di truyền từ mẹ). Bởi vì tế bào trứng từ mẹ đóng góp ti thể cho phôi nên trẻ có thể nhận đột biến ADN ti thể từ mẹ. Người nữ mang đột biến ADN ti thể sẽ di truyền đột biến cho tất cả con gái và con trai, tuy nhiên, nam giới mắc bệnh sẽ không di truyền đột biến cho con.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Phòng ngừa
Bệnh thần kinh ngoại biên, thất điều kèm viêm võng mạc sắc tố di truyền theo ti thể, vì vậy, tất cả thai phụ mang đột biến gen MT-ATP6 đều có nguy cơ truyền bệnh cho con. Do đó, sàng lọc phát hiện bệnh sớm vô cùng quan trọng và cần thiết. Sản phụ nên khám thai và siêu âm định kì cũng như làm các xét nghiệm cần thiết như sàng lọc NIPT nhằm phát hiện sớm vấn đề có thể xảy ra với thai nhi.
Các tên gọi khác
- NARP
- NARP syndrome
- Neuropathy, ataxia, and retinitis pigmentos
- Neurogenic muscle weakness, ataxia, and retinitis pigmentosa
References
- Genetic Testing Information. NARP syndrome. Retrieved September 30, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/gtr/conditions/C1328349/
- Genetic and Rare Diseases Information Center. NARP syndrome. Retrieved September 30, 2024 from https://rarediseases.info.nih.gov/diseases/262/index
- Catalog of Genes and Diseases from OMIM. NEUROPATHY, ATAXIA, AND RETINITIS PIGMENTOSA. Retrieved September 30, 2024 from https://omim.org/entry/551500
- U.S National Library of Medicine. Neuropathy, ataxia, and retinitis pigmentosa. Retrieved September 30, 2024 from https://medlineplus.gov/genetics/condition/neuropathy-ataxia-and-retinitis-pigmentosa/
- MalaCards. Neuropathy, Ataxia, and Retinitis Pigmentosa (NARP). Retrieved September 30, 2024 from https://www.malacards.org/card/neuropathy_ataxia_and_retinitis_pigmentosa
- National Institute of Health. NEUROPATHY, ATAXIA, AND RETINITIS PIGMENTOSA SYNDROME: A MULTIDISCIPLINARY DIAGNOSIS. Retrieved September 30, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC8219086/
- National Organization for Rare Disorders. Maternally Inherited Leigh Syndrome and NARP Syndrome. Retrieved September 30, 2024 from https://rarediseases.org/rare-diseases/maternally-inherited-leigh-syndrome-and-narp-syndrome/
- Orphanet. NARP syndrome. Retrieved September 30, 2024 from https://www.orpha.net/en/disease/detail/644
