Liệt cơ vận nhãn ngoài tiến triển (progressive external ophthalmoplegia) là bệnh di truyền làm cơ mắt suy yếu. Bệnh thường khởi phát trong độ tuổi 18–40. Dấu hiệu đầu tiên là sụp mí một bên hoặc cả hai mắt. Triệu chứng bệnh tiến triển nghiêm trọng hơn theo thời gian.

Nguồn: Medlineplus.gov

Ảnh: Mí mắt sụp xuống
Nguồn: Elements of Morphology, National Human Genome Research Institute
Biểu hiện lâm sàng
Sụp mí mắt là hiện tượng mí mắt trên bị chùng xuống gây cản trở tầm nhìn. Khi triệu chứng này tiến triển nặng hơn, người bệnh có thể vô thức sử dụng cơ trán để nâng mí mắt lên hoặc ngẩng cằm lên nhằm mở rộng tầm nhìn. Chúng là phản ứng tự nhiên của cơ thể để thích ứng với tình trạng suy giảm chức năng cơ mắt. Bên cạnh đó, người bệnh có thể liệt cơ nhãn cầu. Do đó, mắt của họ không thể chuyển động, họ cần di chuyển đầu khi muốn thay đổi hướng nhìn.
Ngoài ra, những cơ dùng để vận động như cơ tại cổ, cánh tay hoặc chân cũng suy giảm chức năng, tình trạng này dễ nhận biết khi người bệnh tập thể dục. Bệnh nhân sẽ cảm thấy mệt mỏi, đau nhức cơ bắp, khó thở và chóng mặt tuy họ tập thể dục cường độ thấp. Mặt khác, người bệnh cũng có biểu hiện khó nuốt do yếu cơ.
Khi được nhuộm màu và quan sát dưới kính hiển vi, tế bào cơ của người bệnh chứa nhiều ti thể hơn bình thường. Ti thể tích tụ quá mức khiến tế bào cơ có màu đỏ đặc trưng và hình dạng như sợi cơ rách.

Nguồn: Medlineplus.gov
Tuy bệnh nhân có biểu hiện chính là yếu cơ, họ có thể biểu hiện thêm các triệu chứng gồm:
- Mất thính lực do tổn thương thần kinh tại tai trong
- Yếu và mất cảm giác các chi
- Suy giảm khả năng phối hợp cơ
- Bệnh Parkinson
- Trầm cảm
Trường hợp người bệnh có biểu hiện yếu cơ đi kèm với các triệu chứng bổ sung, họ được phân loại vào nhóm liệt cơ vận nhãn ngoài tiến triển cộng (PEO+).
Mặt khác, liệt cơ vận nhãn ngoài tiến triển có thể là một phần trong nhóm bệnh liên quan đến ti thể với nhiều triệu chứng tương tự. Liệt cơ vận nhãn ngoài tiến triển chủ yếu làm yếu cơ mắt và liệt cơ di chuyển nhãn cầu. Tuy nhiên, các bệnh lí khác thuộc nhóm này như phổ bệnh lí thần kinh mất điều hòa và hội chứng Kearns-Sayre có thể ảnh hưởng đến nhiều hệ cơ quan khác nhau trong cơ thể.

Ảnh: Cấu trúc tai bình thường
Nguồn: Blamb/Shutterstock.com
Độ phổ biến
Hiện nay, chưa có thống kê cụ thể về tỉ lệ người mắc bệnh liệt cơ vận nhãn ngoài tiến triển.
Nguyên nhân
Bất thường trong ti thể là nguyên nhân chính dẫn đến liệt cơ vận nhãn ngoài tiến triển. Ti thể là cấu trúc bên trong tế bào, chúng sử dụng oxy để thực hiện quá trình phosphoryl hóa oxy hóa, qua đó năng lượng từ thức ăn được chuyển đổi thành dạng tế bào có thể sử dụng.

Nguồn: extender_01/Shutterstock.com
Tuy phần lớn ADN được đóng gói trong nhiễm sắc thể và nằm trong nhân, ti thể cũng có một lượng nhỏ ADN của riêng mình (ADN ti thể). ADN ti thể chứa các gen tham gia quá trình phosphoryl hóa oxy hóa. Bất thường ti thể làm suy giảm quá trình phosphoryl hóa oxy hóa, do đó ảnh hưởng đến cơ vì cơ sử dụng năng lượng từ quá trình này.

Nguồn: Darryl Leja, NHGRI
Đột biến nhiều gen khác nhau gây ra liệt cơ vận nhãn ngoài tiến triển. Một số trường hợp, bệnh do đột biến gen POLG, TWNK, RRM2B và SLC25A4 nằm trong nhân gây ra. Những gen này cung cấp hướng dẫn tạo ra protein tham gia sản xuất và duy trì chức năng ADN ti thể. Người ta nhận thấy đột biến các gen này dẫn đến mất đoạn lớn ADN ti thể trong tế bào cơ. Kích thước đoạn mất dao động từ 2.000–10.000 nucleotide. Những trường hợp còn lại, mất đoạn lớn ADN ti thể trong tế bào cơ không liên quan đến đột biến gen nằm trong ADN nhân.
Ngoài ra, một số đột biến thay đổi trình tự nucleotide của gen MT-TL1 nằm trong ADN ti thể cũng gây ra liệt cơ vận nhãn ngoài tiến triển. Gen này cung cấp hướng dẫn tạo ra phân tử ARN vận chuyển. Phân tử này có chức năng lắp ráp axit amin thành protein thực hiện các bước phosphoryl hóa oxy hóa. Người ta chưa rõ mất đoạn ADN ti thể hoặc đột biến gen trong ADN ti thể dẫn đến các dấu hiệu và triệu chứng cụ thể của bệnh liệt cơ vận nhãn ngoài tiến triển như thế nào.

Ảnh: Cấu trúc ADN
Nguồn: Terese Winslow LLC

Ảnh: Cấu trúc nhiễm sắc thể
Nguồn: U.S. National Library of Medicine

Ảnh: Axit amin
Nguồn: Darryl Leja, NHGRI
Chẩn đoán
Liệt cơ vận nhãn ngoài tiến triển được chẩn đoán dựa trên biểu hiện lâm sàng kết hợp với xét nghiệm và chẩn đoán phân biệt với các bệnh lí khác.
Một số xét nghiệm chẩn đoán bệnh phổ biến bao gồm:
- Sinh thiết và nhuộm cơ bằng Gömöri trichrome
- Lập bản đồ phạm vi chuyển động ngoại nhãn
- Chụp cộng hưởng từ (MRI)
- Xét nghiệm kháng thể thụ thể acetylcholine
- Xét nghiệm di truyền

Ảnh: Sinh thiết cơ
Nguồn: Cleveland Clinic
Điều trị
Hiện nay, chưa có phương pháp điều trị hoàn toàn bệnh liệt cơ vận nhãn ngoài tiến triển. Các liệu pháp chủ yếu nhằm giảm nhẹ triệu chứng và cải thiện thị lực người bệnh. Bác sĩ có thể thực hiện phẫu thuật nâng mí mắt nhằm điều trị sụp mí cho bệnh nhân.
Đối với người bệnh có triệu chứng lác mắt, họ có thể điều trị bằng phẫu thuật mắt nhằm điều chỉnh lại vị trí của cơ mắt. Tuy nhiên, bệnh mang tính chất tiến triển nên lác mắt có thể tái phát sau phẫu thuật. Trường hợp người bệnh bị song thị, nghĩa là họ nhìn thấy hai hình ảnh từ một vật thể duy nhất do liệt cơ mắt không đối xứng, họ có thể sử dụng lăng kính để điều chỉnh thị giác hoặc tiến hành phẫu thuật.

Nguồn: Vision Center
Dạng di truyền
Liệt cơ vận nhãn ngoài tiến triển có thể di truyền theo nhiều kiểu khác nhau tùy thuộc vào nguyên nhân gây bệnh.
Trường hợp bệnh nhân mang đột biến gen POLG, TWNK, RRM2B và SLC25A4, bệnh di truyền theo kiểu trội trên nhiễm sắc thể thường. Do đó, một bản sao của gen trong mỗi tế bào đủ để gây ra bệnh. Người bệnh thường được di truyền từ cha hoặc mẹ mắc bệnh. Một số ít trường hợp là do đột biến mới (denovo) xuất hiện trong quá trình hình thành tế bào sinh sản (trứng, tinh trùng) hoặc quá trình phát triển phôi sớm.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Một số người bệnh mang đột biến gen POLG hoặc RRM2B di truyền theo kiểu lặn trên nhiễm sắc thể thường. Do đó, bệnh chỉ biểu hiện khi có cả hai bản sao của gen đột biến trong mỗi tế bào. Bệnh nhân mắc bệnh di truyền gen lặn trên nhiễm sắc thể thường có bố và mẹ mang một bản sao của gen đột biến, nhưng họ ít khi biểu hiện triệu chứng bệnh.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Đối với người mang đột biến gen MT-TL1, bệnh di truyền theo ti thể hay di truyền từ mẹ. Vì tế bào trứng từ mẹ đóng góp ti thể cho phôi nên trẻ có thể nhận đột biến ADN ti thể từ mẹ. Người nữ mang đột biến ADN ti thể sẽ di truyền đột biến cho tất cả con gái và con trai, tuy nhiên, nam giới mắc bệnh sẽ không di truyền đột biến cho con. Đột biến ADN ti thể gây ra bệnh liệt cơ vận nhãn ngoài tiến triển không di truyền, chúng xuất hiện trong quá trình hình thành tế bào trứng của mẹ hoặc quá trình phát triển phôi sớm.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Phòng ngừa
Bệnh liệt cơ vận nhãn ngoài tiến triển di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường, nếu cha hoặc mẹ mắc bệnh, con sinh ra sẽ có 50% khả năng di truyền bệnh. Do đó, để bảo đảm 100% khả năng con không bị bệnh, cha mẹ có thể chọn phương pháp thụ tinh nhân tạo IVF và sàng lọc phôi PGS/PGD.
Bên cạnh đó, bệnh có thể di truyền lặn do đột biến gen POLG hoặc RRM2B, cha mẹ mang đột biến dị hợp nên gần như không có biểu hiện bệnh, do đó rất khó phát hiện cho đến khi sinh con. Cha mẹ nên làm xét nghiệm sàng lọc gen lặn để chủ động cho tương lai của con. Các cặp vợ chồng trước khi mang thai cần tư vấn và xét nghiệm di truyền nhằm đảm bảo sinh con khỏe mạnh. Người thuộc nhóm nguy cơ mắc bệnh cần khám sức khỏe và tầm soát bệnh định kì.
Ngoài ra, đột biến gen MT-TL1 có thể xảy ra ngẫu nhiên trong quá trình tạo phôi, vì vậy tất cả thai phụ đều có nguy cơ mang thai bị bệnh. Do đó, sàng lọc phát hiện bệnh sớm vô cùng quan trọng và cần thiết. Sản phụ nên khàm thai và siêu âm định kì cũng như làm các xét nghiệm cần thiết như sàng lọc NIPT nhằm phát hiện sớm vấn đề có thể xảy ra với thai nhi.
Các tên gọi khác
- PEO
- CPEO
- Chronic progressive external ophthalmoplegia
References
- Genetic Testing Information. Progressive external ophthalmoplegia. Retrieved September 30, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/gtr/conditions/C0162674/
- Genetic and Rare Diseases Information Center. Progressive external ophthalmoplegia. Retrieved September 30, 2024 from https://rarediseases.info.nih.gov/diseases/4503/index
- Catalog of Genes and Diseases from OMIM. PROGRESSIVE EXTERNAL OPHTHALMOPLEGIA WITH MITOCHONDRIAL DNA DELETIONS, AUTOSOMAL DOMINANT 1; PEOA1. Retrieved September 30, 2024 from https://omim.org/entry/157640
- U.S National Library of Medicine. Progressive external ophthalmoplegia. Retrieved September 30, 2024 from https://medlineplus.gov/genetics/condition/progressive-external-ophthalmoplegia/
- MalaCards. Chronic Progressive External Ophthalmoplegia (PEO). Retrieved September 30, 2024 from https://www.malacards.org/card/chronic_progressive_external_ophthalmoplegia
- National Institute of Health. Progressive external ophthalmoplegia. Retrieved September 30, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC10440731/
- Orphanet. Progressive external ophthalmoplegia. Retrieved September 30, 2024 from https://www.orpha.net/en/disease/detail/520820
- Radiopaedia. hronic progressive external ophthalmoplegia. Retrieved September 30, 2024 from https://radiopaedia.org/articles/chronic-progressive-external-ophthalmoplegia
- Rare Genomics Institute. Chronic Progressive External Ophthalmoplegia (CPEO). Retrieved September 30, 2024 from https://www.raregenomics.org/cpeo
