• Skip to primary navigation
  • Skip to main content
  • Skip to footer
  • Hà Nội
  • TPHCM
  • Đà Nẵng
  • Sàng lọc thai NIPT
  • Chẩn đoán ung thư
  • Sàng lọc gen lặn
  • Chẩn đoán di truyền
  • Hà Nội
  • TPHCM
  • Đà Nẵng
  • Zalo
  • Facetime
  • Viber
  • Web chat
  • Gọi
  • Zalo
  • Dịch vụ
  • Địa chỉ
  • Đặt hẹn

Trung tâm xét nghiệm ihope

  • Xét nghiệm
    • Sàng lọc thai NIPT

      Phát hiện sớm hội chứng Down

    • Chẩn đoán ung thư

      Hỗ trợ điều trị trúng đích và miễn dịch

    • Sàng lọc gen lặn

      Phát hiện sớm các bệnh di truyền

    • Chẩn đoán di truyền

      Bệnh di truyền ở trẻ em và người lớn

    • Hợp tác
  • Thư viện
  • Hỗ trợ
  • Liên hệ
  • Xét nghiệm
    • Sàng lọc thai NIPT
    • Chẩn đoán ung thư
    • Sàng lọc gen lặn
    • Chẩn đoán di truyền
  • Links
    • Hỗ trợ
    • Liên hệ
    • Hợp tác
    • Thư viện
  • Gọi ngay
Thư viện Sức khỏeBệnh di truyềnĐột biến trội

Động kinh di truyền kèm co giật do sốt dạng phức tạp

25/01/2025
Động Kinh Di Truyền Kèm Co Giật Do Sốt Dạng Phức Tạp Min

Động kinh di truyền kèm co giật do sốt phức tạp (Genetic Epilepsy with Febrile Seizures plus – GEFS+) là bệnh di truyền gây ra nhiều dạng co giật với mức độ nghiêm trọng khác nhau. Chúng bao gồm co giật do sốt, động kinh và nhiều dạng co giật khác không liên quan đến sốt. Ngoài ra, người bệnh biểu hiện một số dạng co giật bổ sung như co giật toàn thể (tác động lên hai bán cầu Não ) và co giật một phần (ảnh hưởng đến một bên bán cầu não). Tuy nhiên, dạng co giật một phần thường ít xảy ra hơn.

Mô Tả Biểu Hiện Của Bệnh Nhân Trong Cơn Co Cứng Và Co Giật
Ảnh: Mô tả biểu hiện của bệnh nhân trong cơn co cứng và co giật
Nguồn: NEUROSURGERY Neurosurgery.
cau-truc-ben-trong-cua-nao

Ảnh: Cấu trúc bên trong của não
Nguồn: Terese Winslow

Biểu hiện lâm sàng

Các dạng co giật phổ biến của GEFS+ bao gồm:

  • Co giật cơ khiến các nhóm cơ co thắt không tự chủ
  • Co giật mất trương lực gây mất trương lực cơ đột ngột, làm cho cơ thể người bệnh mềm nhũn
  • Co giật vắng ý thức khiến người bệnh mất ý thức trong thời gian ngắn

Đối với dạng co giật vắng ý thức, người bệnh không có biểu hiện co giật như những dạng khác. Họ dừng các hoạt động đang làm, nhìn chằm chằm vào một điểm và không phản ứng với mọi thứ xung quanh.

Dạng phổ biến và nhẹ nhất của GEFS+ là co giật do sốt đơn giản. Bệnh khởi phát trong giai đoạn sơ sinh và thường kết thúc khi trẻ được 5 tuổi. Sau 5 tuổi, nếu trẻ tiếp tục xuất hiện co giật do sốt hoặc các loại co giật khác, bệnh được phân loại vào nhóm co giật do sốt phức tạp. Bệnh co giật do sốt phức tạp thường kết thúc khi trẻ 10–14 tuổi.

Hội chứng Dravet cũng thuộc phổ GEFS+, chúng là dạng nghiêm trọng nhất. Trẻ sơ sinh mắc bệnh có các cơn co giật kéo dài vài phút do sốt. Bắt đầu từ 1 tuổi, trẻ xuất hiện các loại co giật khác không do sốt như co giật cơ và co giật vắng ý thức. Biểu hiện của hội chứng Dravet khó kiểm soát bằng thuốc và chúng tiến triển nghiêm trọng hơn theo thời gian. Ngoài ra, suy giảm chức năng não cũng là biểu hiện phổ biến của người bệnh. Trẻ vẫn phát triển bình thường trong những năm đầu đời, nhưng sau đó tốc độ phá triển đình trệ; một số trẻ mất đi các kĩ năng đã có (thoái triển). Nhiều người bệnh bị thiểu năng trí tuệ và rối loạn vận động.

Một số người mắc GEFS+ biểu hiện các cơn co giật với mức độ trung bình, chúng không phù hợp với chẩn đoán điển hình của co giật do sốt đơn giản, co giật do sốt phức tạp hoặc hội chứng Dravet.

Các thành viên trong gia đình mắc GEFS+ có thể biểu hiện nhiều kiểu hình khác nhau hoặc kết hợp giữa co giật do sốt và động kinh. Ví dụ, một thành viên có thể bị co giật do sốt, trong khi thành viên khác có biểu hiện động kinh giật cơ. GEFS+ thường xảy ra trong gia đình. Tuy nhiên, bệnh có thể xuất hiện tại những cá nhân không có tiền sử mắc bệnh trong gia đình.

Các Loại Mô Cơ

Ảnh: Các loại mô cơ
Nguồn: U.S. National Library of Medicine

Trương Lực Cơ Giảm

Ảnh: Trương lực cơ giảm
Nguồn: Icahn School of Medicine at Mount Sinai

Độ phổ biến

GEFS+ rất hiếm gặp nên hiện nay chưa có thống kê cụ thể tỉ lệ mắc bệnh.

Nguyên nhân

Đột biến nhiều gen gây ra GEFS+. Trong đó, đột biến gen SCN1A chiếm hơn 80% các trường hợp mắc hội chứng Dravet và khoảng 10% tổng số ca mắc co giật do sốt. Một số đột biến gen khác chưa được xác định.

Gen SCN1A cung cấp hướng dẫn tạo ra tiểu đơn vị của kênh vận chuyển ion natri tích điện dương vào tế bào. Dòng ion vận chuyển này tạo ra và truyền tín hiệu giữa các tế bào thần kinh. Các gen khác liên quan đến GEFS+ cung cấp hướng dẫn tạo ra tiểu đơn vị của thụ thể GABAA. Thụ thể này ức chế tín hiệu giữa các tế bào thần kinh.

te-bao-than-kinh
Ảnh: Tế bào thần kinh
Nguồn: Eunice Kennedy Shriver National Institute of Child Health and Human Development

Đột biến gen SCN1A tác động lên kênh natri theo nhiều cách khác nhau. Đột biến gen SCN1A gây ra hội chứng Dravet làm giảm số lượng kênh natri trong tế bào. Mặt khác, đột biến gây GEFS+ dạng nhẹ hơn có thể làm thay đổi cấu trúc kênh. Một số đột biến làm kênh giảm hoạt động trong khi những đột biến khác có thể làm tăng hoạt động của kênh. Tuy nhiên, tất cả những thay đổi di truyền này đều ảnh hưởng đến khả năng vận chuyển ion natri vào tế bào thần kinh của các kênh. Người ta chưa rõ những thay đổi này phát triển thành các cơn động kinh như thế nào.

Người ta nhận thấy một số dạng đột biến gen SCN1A nhất định làm tế bào thần kinh tạo ra và truyền tín hiệu liên tục, do đó kích thích hoạt động não bất thường liên quan đến các cơn động kinh. Tuy nhiên, người ta chưa rõ những dạng còn lại của đột biến gen SCN1A có hoạt động theo cơ chế này hay không.

Ngoài ra, đột biến gen liên quan đến sản xuất thụ thể GABAA làm giảm chức năng ức chế tín hiệu của thụ thể này. Do đó, các tế bào thần kinh truyền tín hiệu mất kiểm soát đến các tế bào xung quanh và dẫn đến biểu hiện co giật của người bệnh. Phổ bệnh GEFS+ rất đa dạng và phức tạp nên người ta cho rằng yếu tố di truyền kết hợp với môi trường sẽ quyết định mức độ nghiêm trọng của bệnh.

Cùng chuyên mục

  • Đột biến gen là gì?
  • Có những loại đột biến nào?
  • Có phải tất cả đột biến gen đều gây bệnh?
  • Bất thường nhiễm sắc thể là gì?
  • Thay đổi số lượng nhiễm sắc thể ảnh hưởng thế nào?

Xem thêm Đột biến gen và sức khỏe

Chẩn đoán

GEFS+ được chẩn đoán dựa trên biểu hiện lâm sàng, xét nghiệm chuyên biệt kết hợp với bệnh sử gia đình.

Một số xét nghiệm chẩn đoán GEFS+ bao gồm:

  • Điện não đồ (EEG)
  • Chụp cộng hưởng từ (MRI)

Ngoài ra, bác sĩ có thể chỉ định người bệnh thực hiện xét nghiệm di truyền nhằm phát hiện đột biến gen và xác nhận chẩn đoán.

qua-trinh-do-dien-nao

Ảnh: Quá trình đo điện não
Nguồn: verywellhealth.com

Điều trị

Hiện nay, chưa có phương pháp điều trị hoàn toàn GEFS+. Các liệu pháp chủ yếu nhằm kiểm soát co giật và giảm nhẹ triệu chứng.

Các loại thuốc được sử dụng để điều trị co giật do sốt gồm:

  • Midazolam nhỏ mũi
  • Diazepam trực tràng

Đối với co giật toàn thể không do sốt, bệnh nhân có thể sử dụng thuốc:

  • Valproate
  • Lamotrigine
  • Levetiracetam
  • Topiramate

Co giật do sốt tái phát hoặc co giật do sốt dạng phức tạp có thể cần điều trị dự phòng. Phần lớn người bệnh không cần thực hiện liệu pháp ăn kiêng hoặc phẫu thuật để điều trị những cơn co giật và động kinh.

Dạng di truyền

GEFS+ di truyền theo kiểu trội trên nhiễm sắc thể thường. Do đó, một bản sao của gen trong mỗi tế bào đủ để gây ra bệnh. Người bệnh thường được di truyền từ cha hoặc mẹ mắc bệnh.

Di truyền gen trội
Ảnh: Sơ đồ di truyền gen trội từ cha mẹ sang con
Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Đối với hội chứng Dravet, bệnh do đột biến mới (denovo) xuất hiện trong quá trình hình thành tế bào sinh sản (trứng, tinh trùng) hoặc quá trình phát triển phôi sớm. Một số trường hợp, người mắc hội chứng Dravet được di truyền từ cha mẹ mắc bệnh GEFS+ dạng nhẹ.
đột Biến Mới
Ảnh: Đột biến mới
Nguồn: U.S. National Library of Medicine

Cùng chuyên mục

  • Bất thường nhiễm sắc thể có di truyền không?
  • Bệnh di truyền trong gia đình là gì?
  • Bệnh sử gia đình quan trọng như thế nào?
  • Di truyền gen lặn

Xem thêm Di truyền trong gia đình

Phòng ngừa

GEFS+ di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường, nếu cha hoặc mẹ mắc bệnh, con sinh ra sẽ có 50% khả năng di truyền bệnh. Do đó, để bảo đảm 100% khả năng con không bị bệnh, cha mẹ có thể chọn phương pháp thụ tinh nhân tạo IVF và sàng lọc phôi PGS/PGD. Các thành viên trong gia đình nên khám sức khỏe và tầm soát bệnh định kì nếu có thành viên mắc bệnh. Các cặp vợ chồng trước khi mang thai cần tư vấn và xét nghiệm di truyền đảm bảo sinh con khỏe mạnh.

Ngoài ra, GEFS+ có thể xảy ra do đột biến ngẫu nhiên xảy ra trong quá trình tạo phôi, vì vậy tất cả thai phụ đều có nguy cơ mang thai bị bệnh. Do đó, các cặp vợ chồng trước khi mang thai cần tư vấn và xét nghiệm di truyền nhằm đảm bảo sinh con khỏe mạnh. Đồng thời, thai phụ cần theo dõi chặt chẽ thai kì bằng siêu âm và các xét nghiệm sàng lọc cũng như thăm khám định kì với bác sĩ sản khoa. Người thuộc nhóm nguy cơ mắc bệnh cần khám sức khỏe và tầm soát bệnh định kì.

Các tên gọi khác

  • GEFS+
  • Generalized epilepsy with febrile seizures plus

References

  1. Genetic Testing Information. Generalized epilepsy with febrile seizures plus. Retrieved December 09, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/gtr/conditions/C3502809/
  2. Genetic and Rare Diseases Information Center. Myoclonic-astatic epilepsy. Retrieved December 09, 2024 from https://rarediseases.info.nih.gov/diseases/2169/index
  3. Catalog of Genes and Diseases from OMIM. GENERALIZED EPILEPSY WITH FEBRILE SEIZURES PLUS, TYPE 2; GEFSP2. Retrieved December 09, 2024 from https://omim.org/entry/604403
  4. U.S National Library of Medicine. Genetic epilepsy with febrile seizures plus. Retrieved December 09, 2024 from https://medlineplus.gov/genetics/condition/genetic-epilepsy-with-febrile-seizures-plus/
  5. MalaCards. Generalized Epilepsy with Febrile Seizures Plus (GEFS+). Retrieved December 09, 2024 from https://www.malacards.org/card/generalized_epilepsy_with_febrile_seizures_plus
  6. National Institute of Health. Febrile seizures and genetic epilepsy with febrile seizures plus (GEFS+). Retrieved December 09, 2024 from https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/25917466/
  7. National Institute of Neurological Disorders and Stroke. Peter Camfield 1, Carol Camfield 1 Retrieved December 09, 2024 from
  8. Orphanet. Genetic epilepsy with febrile seizure plus. Retrieved December 09, 2024 from https://www.orpha.net/en/disease/detail/36387
  9. ResearchGate. Genetic epilepsy with febrile seizures plus (GEFS+). Retrieved December 09, 2024 from https://www.researchgate.net/publication/343266948_Genetic_epilepsy_with_febrile_seizures_plus_GEFS

Filed Under: Đột biến trội Tagged With: imuta-Bệnh não do động kinh, imuta-Đau nửa đầu, imuta-Động kinh

Hội chứng polyp juvenile
Hội chứng Saul-Wilson

Related posts

  • Hội chứng mất đoạn 5q14.3

    Bất thường cấu trúc NST
  • Phổ bệnh thần kinh mất điều hòa

    Đột biến lặn
  • Liệt cơ vận nhãn ngoài tiến triển

    Di truyền ti thể
  • Bệnh cơ-gan-não trẻ em

    Đột biến lặn
  • Tật đầu nhỏ, co giật và chậm phát triển

    Đột biến lặn
  • Hội chứng mất đoạn 1p31p32

    Bất thường cấu trúc NST

Footer

  • Xét nghiệm

    • Sàng lọc thai NIPT
    • Chẩn đoán ung thư
    • Sàng lọc sơ sinh
    • Sàng lọc gen lặn
    • Bệnh di truyền
  • Giới thiệu

    • Về chúng tôi
    • Công nghệ
    • Thư viện
    • Hợp tác
  • Hỗ trợ

    • Hỏi đáp
    • Bảo hành
    • Chính sách
  • Liên hệ

    • +84968911884
    • [email protected]
    • Địa chỉ