Hội chứng Laryngo-onycho-cutaneous (Laryngo-Onycho-Cutaneous – LOC) là một bệnh di truyền hiếm gặp gây ra các bất thường tại thanh quản, móng và da. Các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh liên quan đến sự tăng sinh mô hạt tại nhiều bộ phận khác nhau trên cơ thể. Thông thường, mô hạt hình thành trong quá trình lành thương và được thay thế bằng tế bào da. Tuy nhiên, trên người mắc hội chứng Laryngo-onycho-cutaneous, mô này phát triển ngay cả khi không có tổn thương lớn.
Biểu hiện lâm sàng
Một trong những triệu chứng đầu tiên xuất hiện trong giai đoạn sơ sinh là tiếng khóc khàn do loét hoặc tăng sinh mô hạt tại thanh quản. Mô hạt dư thừa có thể gây tắc nghẽn đường thở dẫn đến các vấn đề hô hấp đe dọa tính mạng. Do đó, nhiều bệnh nhân không thể sống sót qua giai đoạn trẻ nhỏ.
Mô hạt cũng phát triển trong mắt, cụ thể tại kết mạc (mô lót mí mắt và phần trắng của mắt). Người bệnh thường giảm hoặc mất thị lực hoàn toàn do mô hạt phát triển quá mức.
Một đặc điểm phổ biến khác là các vết chàm da, lành thương chậm và có nguy cơ nhiễm trùng. Người bệnh cũng có thể có móng tay dị dạng và răng nhỏ bất thường. Men răng mỏng góp phần làm tăng nguy cơ sâu răng.
Hội chứng Laryngo-onycho-cutaneous thường được xem là một dạng của bệnh ly thượng bì bóng nước thể liên kết (junctional epidermolysis bullosa) với biểu hiện đặc trưng bởi làn da mỏng manh và dễ phồng rộp. Mặc dù bệnh nhân ly thượng bì bóng nước thể tiếp nối có thể mang một số đặc điểm của hội chứng Laryngo-onycho-cutaneous, họ thường không bị tăng sinh mô hạt tại kết mạc.
Độ phổ biến
Hội chứng Laryngo-onycho-cutaneous là bệnh hiếm gặp, bệnh chủ yếu ảnh hưởng đến các gia đình gốc Punjabi từ Ấn Độ và Pakistan. Bệnh cũng được báo cáo xuất hiện trong một gia đình tại Iran.
Nguyên nhân
Nguyên nhân gây bệnh bắt nguồn từ đột biến gen LAMA3. Gen này cung cấp hướng dẫn tạo ra một tiểu đơn vị của protein laminin 332. Protein này được cấu tạo từ ba tiểu đơn vị gồm alpha, beta và gamma. Gen LAMA3 cung cấp thông tin hướng dẫn cho tiểu đơn vị alpha, trong khi các tiểu đơn vị beta và gamma được sản xuất từ các gen khác.
Protein laminin 332 giữ vai trò thiết yếu để củng cố và ổn định da thông qua liên kết lớp biểu bì với các lớp dưới da. Các nghiên cứu cho thấy laminin 332 cũng tham gia vào quá trình lành vết thương, phát triển giác mạc và men răng.
Đột biến gây hội chứng Laryngo-onycho-cutaneous thay đổi cấu trúc tiểu đơn vị alpha-3a của laminin 332. Laminin được tạo ra từ tiểu đơn vị biến đổi không thể kết nối hiệu quả biểu bì với các lớp dưới da hoặc điều hòa quá trình lành thương. Những bất thường này của laminin 332 gây ra các vết trợt da và tăng sinh mô hạt đặc trưng. Tình trạng laminin 332 mất chức năng dẫn đến các bất thường về móng và răng trong bệnh lí này.
Chẩn đoán
Bệnh nhân cần đến các trung tâm chuyên sâu về ly thượng bì bóng nước (EB) để được chẩn đoán chính xác. Các biểu hiện lâm sàng mang tính quyết định trong chẩn đoán bệnh. Hội chứng Laryngo-onycho-cutaneous có điểm khác biệt quan trọng so với các dạng ly thượng bì bóng nước thể tiếp nối do đột biến gen LAMA3 khác. Trong khi các dạng bệnh khác thường gây suy giảm phản ứng miễn dịch da laminin-332, phản ứng này vẫn duy trì bình thường trong hội chứng Laryngo-onycho-cutaneous. Bởi vì chuỗi polypeptit laminin-a3b không bị ảnh hưởng bởi bệnh.
Xét nghiệm di truyền có thể phát hiện đột biến gen LAMA3A. Trong trường hợp không tìm thấy đột biến này nhưng bệnh nhân vẫn thể hiện các dấu hiệu lâm sàng của hội chứng Laryngo-onycho-cutaneous, bác sĩ chỉ định thêm xét nghiệm gen EB nhằm tìm kiếm các bất thường di truyền khác.
Điều trị
Quá trình điều trị các vết thương tăng sinh mô hạt mãn tính gặp nhiều khó khăn do thuốc kháng viêm và sát khuẩn tại chỗ chỉ cho hiệu quả hạn chế.
Về điều trị các triệu chứng mắt, bệnh nhân thường được chỉ định nhiều loại thuốc như chất bôi trơn không chứa chất bảo quản, kháng sinh chloramphenicol 1%, tiêm dexamethason, mitomycin C và bevacizumab. Phẫu thuật cắt bỏ mô hạt thường không hiệu quả do bệnh tái phát nhanh. Để phòng ngừa mù lòa, bệnh nhân cần được các bác sĩ nhãn khoa giàu kinh nghiệm theo dõi sát sao, đồng thời có thể cần nhiều lần phẫu thuật và các phương pháp tái tạo bề mặt nhãn cầu.
Đối với tình trạng tăng sinh mô hạt thanh quản, bác sĩ thường kê đơn mitomycin C và corticosteroid dùng cả tại chỗ lẫn toàn thân. Khi có các dấu hiệu đầu tiên của hẹp thanh quản như khàn tiếng hoặc thở rít lúc hít vào, bệnh nhân cần được các chuyên gia tai mũi họng thực hiện nội soi thanh khí phế quản ngay lập tức.
Dạng di truyền
Hội chứng Laryngo-onycho-cutaneous di truyền theo kiểu lặn trên nhiễm sắc thể thường, nghĩa là cả hai bản sao của gen trong mỗi tế bào đều mang đột biến. Cha mẹ của một cá nhân mắc bệnh lặn trên nhiễm sắc thể thường mỗi người mang một bản sao của gen bị đột biến, nhưng họ thường không có dấu hiệu và triệu chứng của bệnh.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Phòng ngừa
Hội chứng Laryngo-onycho-cutaneous di truyền lặn, cha mẹ mang đột biến dị hợp nên gần như không có biểu hiện bệnh, do đó rất khó phát hiện cho đến khi sinh con. Để chủ động phòng ngừa, cha mẹ nên làm xét nghiệm sàng lọc gen lặn cho tương lai của con. Các thành viên trong gia đình nên khám sức khỏe và tầm soát bệnh định kì nếu có thành viên mắc bệnh. Các cặp vợ chồng trước khi mang thai cần tư vấn và xét nghiệm di truyền đảm bảo sinh con khỏe mạnh.
Các tên gọi khác
- JEB-LOC
- Laryngoonychocutaneous syndrome
- LOC syndrome
- LOCS
- LOGIC syndrome
- Shabbir syndrome
References
- National Library of Medicine. Laryngo-onycho-cutaneous syndrome. Retrieved January 18, 2026 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/gtr/conditions/C1328355/
- OMIM. EPIDERMOLYSIS BULLOSA, JUNCTIONAL 2C, LARYNGOONYCHOCUTANEOUS; JEB2C. Retrieved January 18, 2026 from https://omim.org/entry/245660
- MedlinePlus. Laryngo-onycho-cutaneous syndrome. Retrieved January 18, 2026 from https://medlineplus.gov/genetics/condition/laryngo-onycho-cutaneous-syndrome/
- GeneSkin. (n.d.). Laryngo-onycho-cutaneous (LOC) syndrome. Retrieved January 18, 2026 from https://geneskin.org/information-professionals/epidermolysis-4/laryngo-onycho-cutaneous-loc-syndrome
