• Skip to primary navigation
  • Skip to main content
  • Skip to footer
  • Hà Nội
  • TPHCM
  • Đà Nẵng
  • Sàng lọc thai NIPT
  • Chẩn đoán ung thư
  • Sàng lọc gen lặn
  • Chẩn đoán di truyền
  • Hà Nội
  • TPHCM
  • Đà Nẵng
  • Zalo
  • Facetime
  • Viber
  • Web chat
  • Gọi
  • Zalo
  • Dịch vụ
  • Địa chỉ
  • Đặt hẹn

Trung tâm xét nghiệm ihope

  • Xét nghiệm
    • Sàng lọc thai NIPT

      Phát hiện sớm hội chứng Down

    • Chẩn đoán ung thư

      Hỗ trợ điều trị trúng đích và miễn dịch

    • Sàng lọc gen lặn

      Phát hiện sớm các bệnh di truyền

    • Chẩn đoán di truyền

      Bệnh di truyền ở trẻ em và người lớn

    • Hợp tác
  • Thư viện
  • Hỗ trợ
  • Liên hệ
  • Xét nghiệm
    • Sàng lọc thai NIPT
    • Chẩn đoán ung thư
    • Sàng lọc gen lặn
    • Chẩn đoán di truyền
  • Links
    • Hỗ trợ
    • Liên hệ
    • Hợp tác
    • Thư viện
  • Gọi ngay
Thư viện Sức khỏeBệnh di truyềnĐột biến lặn

Thiếu kinase mevalonate

11/02/2026
Thieu kinase mevalonate

Thiếu kinase mevalonate là bệnh lý gây ra các đợt sốt tái phát, thường khởi phát từ khi còn nhỏ. Mỗi đợt sốt kéo dài khoảng 3 đến 6 ngày với tần suất thay đổi tùy thuộc vào từng cá nhân. Đối với trẻ em, các đợt sốt có thể xảy ra thường xuyên, lên đến 25 lần mỗi năm, nhưng tần suất giảm dần khi lớn lên.

Biểu hiện lâm sàng

Thiếu kinase mevalonate được chia làm hai thể gồm thể nhẹ được gọi là hội chứng tăng Immunoglobulin D (HIDS) và thể nặng được gọi là nhiễm toan Mevalonic (MVA).

Người mắc HIDS thường biểu hiện nhiều triệu chứng trong đợt sốt như hạch to, đau bụng, đau khớp, tiêu chảy, phát ban và đau đầu. Một số trường hợp có thể kèm theo loét miệng đau, riêng nữ giới còn có thể bị loét âm đạo. Hiếm gặp hơn là biến chứng lắng đọng protein dẫn đến suy thận. Các yếu tố như tiêm vaccine, phẫu thuật, chấn thương hay stress thường kích hoạt cơn sốt. Mặc dù xét nghiệm máu cho thấy nồng độ IgD và IgA tăng cao, hiện tượng này không gây ra triệu chứng bệnh. Giữa các đợt sốt, người bệnh sinh hoạt hoàn toàn bình thường và có tuổi thọ như người khỏe mạnh.

Thể MVA diễn tiến nặng nề hơn với các triệu chứng liên tục. Trẻ mắc bệnh thường chậm phát triển, khó vận động và thăng bằng, kèm theo động kinh tái phát, thị lực suy giảm dần và chậm tăng trưởng. Dấu hiệu đặc trưng là đầu nhỏ và dài bất thường. Khi lớn lên, bệnh nhân thường gặp nhiều vấn đề với mắt như viêm màng bồ đào, củng mạc xanh, thoái hóa võng mạc và đục thủy tinh thể. Người trưởng thành mắc bệnh thường thấp còi và dần bị yếu cơ. Trong mỗi đợt sốt, các triệu chứng như gan lách to, hạch to, đau bụng, tiêu chảy và phát ban thường xuất hiện. Tiên lượng thể MVA thay đổi tùy mức độ: trường hợp nặng có thể tử vong từ nhỏ, trong khi trường hợp nhẹ vẫn có thể sống khỏe mạnh như người bình thường.

Độ phổ biến

Trên toàn thế giới, hơn 200 trường hợp thiếu kinase mevalonate đã được báo cáo, phần lớn là dạng HIDS.

Nguyên nhân

Thiếu kinase mevalonate bắt nguồn từ đột biến gen MVK. Gen MVK cung cấp hướng dẫn tạo ra kinase mevalonate—enzyme tham gia vào quá trình sản xuất cholesterol, hormone steroid và axit mật. Kinase mevalonate cũng hỗ trợ sản xuất các chất cần thiết cho nhiều hoạt động của tế bào như tăng trưởng, biệt hóa, cấu trúc, biểu hiện gen và sản xuất protein.

Các đột biến gen MVK khiến enzyme mevalonate kinase thay đổi cấu trúc và giảm hoạt tính. Tuy nhiên, người bệnh vẫn duy trì được quá trình sản xuất cholesterol, hormone steroid và axit mật bình thường. Cơ chế gây bệnh hiện vẫn chưa rõ ràng. Một số chuyên gia cho rằng axit mevalonic tích tụ do enzyme không xử lí được gây ra các triệu chứng. Một ý kiến khác lại cho rằng nguyên nhân là do thiếu các chất chuyển hóa từ axit mevalonic.

Mức độ nặng nhẹ của bệnh phụ thuộc trực tiếp vào hoạt tính enzyme còn lại. Những người có hoạt tính enzyme từ 1–20% thường mắc thể nhẹ HIDS, trong khi những người có hoạt tính dưới 1% thường mắc thể nặng MVA.

Cùng chuyên mục

  • Đột biến gen là gì?
  • Có những loại đột biến nào?
  • Có phải tất cả đột biến gen đều gây bệnh?
  • Bất thường nhiễm sắc thể là gì?
  • Thay đổi số lượng nhiễm sắc thể ảnh hưởng thế nào?

Xem thêm Đột biến gen và sức khỏe

Chẩn đoán

Chẩn đoán thiếu kinase mevalonate dựa trên nhiều yếu tố kết hợp. Trước tiên, bệnh nhân được đánh giá các triệu chứng đặc trưng như sốt tái phát suốt đời không do nhiễm trùng. Sau đó, một số xét nghiệm sẽ được thực hiện để hỗ trợ chẩn đoán.

Xét nghiệm máu được dùng để kiểm tra nồng độ immunoglobulin D (IgD). Mặc dù mức IgD cao gợi ý bệnh, kết quả này không hoàn toàn đáng tin cậy vì một số bệnh nhân có IgD bình thường và một số hội chứng sốt định kì khác cũng có thể làm tăng IgD. Tương tự, xét nghiệm nước tiểu được dùng để phát hiện nồng độ axit mevalonic cao cũng không mang tính quyết định do nhiều người bệnh vẫn có mức axit mevalonic bình thường.

Xét nghiệm di truyền phát hiện đột biến gen MVK tại các phòng thí nghiệm chuyên biệt là phương pháp chính xác nhất nhằm xác định chẩn đoán. Theo tiêu chí phân loại mới, chẩn đoán xác định khi phát hiện biến thể gen MVK kèm theo ít nhất một trong các triệu chứng như rối loạn tiêu hóa, sưng hạch bạch huyết cổ hoặc loét miệng.

Điều trị

Quá trình điều trị thiếu kinase mevalonate chủ yếu tập trung vào kiểm soát các triệu chứng. Với trường hợp nhẹ, thuốc giảm đau và hạ sốt như paracetamol, corticosteroid, thuốc chống viêm không steroid có thể làm dịu triệu chứng trong đợt sốt, tuy hiệu quả chỉ tạm thời và không đồng đều.

Một số thuốc điều trị đích đã được nghiên cứu và áp dụng. Canakinumab được FDA phê duyệt năm 2016 có tác dụng ức chế cytokine interleukin-1 beta, bệnh nhân giảm đáng kể các triệu chứng trong đợt sốt. Anakinra (chất ức chế thụ thể interleukin-1) cũng cho thấy hiệu quả tích cực. Các thuốc khác như etanercept, adalimumab (ức chế TNF) và tocilizumab (ức chế interleukin-6) đang được nghiên cứu thêm về hiệu quả điều trị. Riêng colchicine và statin thường không mang lại kết quả khả quan.

Ngoài thuốc men, người bệnh và gia đình cần được tư vấn di truyền để hiểu rõ về bệnh và nguy cơ di truyền cho thế hệ sau.

Cùng chuyên mục

  • Bệnh di truyền là gì?
  • Bệnh di truyền có chữa được không?
  • Bệnh di truyền được chẩn đoán thế nào?
  • Tư vấn di truyền học là gì?
  • Tại sao tôi cần tư vấn di truyền học?

Xem thêm Tư vấn di truyền

Dạng di truyền

Thiếu kinase mevalonate di truyền theo kiểu lặn trên nhiễm sắc thể thường, có nghĩa là cả hai bản sao của gen trong mỗi tế bào đều mang đột biến. Cha mẹ của một cá nhân mắc bệnh lặn trên nhiễm sắc thể thường mỗi người mang một bản sao của gen bị đột biến, nhưng họ thường không có dấu hiệu và triệu chứng của bệnh.

Di truyền gen lặn
Ảnh: Sơ đồ di truyền gen lặn từ cha mẹ sang con
Nguồn: U.S. National Library of Medicine

Cùng chuyên mục

  • Bất thường nhiễm sắc thể có di truyền không?
  • Bệnh di truyền trong gia đình là gì?
  • Bệnh sử gia đình quan trọng như thế nào?
  • Di truyền gen lặn

Xem thêm Di truyền trong gia đình

Phòng ngừa

Thiếu kinase mevalonate di truyền lặn đột biến gen MVK, cha mẹ mang đột biến dị hợp nên gần như không có biểu hiện bệnh, do đó rất khó phát hiện cho đến khi sinh con. Để chủ động phòng ngừa, cha mẹ nên làm xét nghiệm sàng lọc gen lặn cho tương lai của con. Các thành viên trong gia đình nên khám sức khỏe và tầm soát bệnh định kì nếu có thành viên mắc bệnh. Các cặp vợ chồng trước khi mang thai cần tư vấn và xét nghiệm di truyền đảm bảo sinh con khỏe mạnh.

Các tên gọi khác

  • Hyper IgD syndrome
  • Hyperimmunoglobulin D with periodic fever
  • Hyperimmunoglobulinemia D
  • Mevalonic aciduria
  • Mevalonicaciduria
  • Periodic fever, Dutch type

References

  1. National Library of Medicine. Mevalonic aciduria. Retrieved September 6, 2025 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/gtr/conditions/C1959626/
  2. National Organization for Rare Disorders (NORD). Hyper-IgD Syndrome. Retrieved September 06, 2025, from https://rarediseases.org/rare-diseases/hyper-igd-syndrome/
  3. OMIM. MEVALONIC ACIDURIA; MEVA. Retrieved September 06, 2025, from https://omim.org/entry/610377
  4. MedlinePlus. Mevalonate Kinase Deficiency. Retrieved September 06, 2025, from https://medlineplus.gov/genetics/condition/mevalonate-kinase-deficiency/

Filed Under: Đột biến lặn

Bệnh lõi trung tâm
Bệnh tự miễn đa tuyến nội tiết-nhiễm Candida-loạn dưỡng ngoại bì

Related posts

  • Thiếu enzyme phân huỷ lipid trong lysosome

    Đột biến lặn
  • Thiếu phosphoglycerate kinase

    Bệnh liên kết NST X
  • Thiếu succinyl-CoA:3-ketoacid CoA transferase

    Đột biến lặn
  • Thiếu ornithine translocase

    Đột biến lặn
  • Thiếu dopamine beta-hydroxylase

    Đột biến lặn
  • Thiếu pyruvate dehydrogenase

    Bệnh liên kết NST X

Footer

  • Xét nghiệm

    • Sàng lọc thai NIPT
    • Chẩn đoán ung thư
    • Sàng lọc sơ sinh
    • Sàng lọc gen lặn
    • Bệnh di truyền
  • Giới thiệu

    • Về chúng tôi
    • Công nghệ
    • Thư viện
    • Hợp tác
  • Hỗ trợ

    • Hỏi đáp
    • Bảo hành
    • Chính sách
  • Liên hệ

    • +84968911884
    • [email protected]
    • Địa chỉ