Hội chứng giảm ADN ti thể liên-quan-RRM2B, thể bệnh não-cơ có bệnh ống thận (RRM2B-related mitochondrial DNA depletion syndrome, encephalomyopathic form with renal tubulopathy) là một bệnh di truyền nghiêm trọng bắt đầu từ giai đoạn sơ sinh và ảnh hưởng đến nhiều hệ cơ quan. Bệnh liên quan đến rối loạn chức năng não kết hợp yếu cơ (bệnh não-cơ). Nhiều bệnh nhân cũng có rối loạn chức năng thận (bệnh ống thận).
Biểu hiện lâm sàng
Trẻ sơ sinh mắc bệnh có trương lực cơ yếu (giảm trương lực cơ) và chậm phát triển. Nhiều trẻ có kích thước đầu nhỏ hơn bình thường. Do yếu cơ, trẻ thường khó kiểm soát cử động đầu và chậm phát triển các kĩ năng vận động khác như lật hoặc ngồi. Yếu cơ hô hấp dẫn đến khó thở nghiêm trọng và có thể gây suy hô hấp đe dọa tính mạng. Đa số trẻ sơ sinh mắc bệnh tích tụ axit lactic trong cơ thể (nhiễm axit lactic), tình trạng này cũng có thể đe dọa tính mạng.
Một số bệnh nhân bị rối loạn nhu động đường tiêu hóa nên họ khó nuốt, nôn mửa, tiêu chảy và chậm phát triển. Ít phổ biến hơn, triệu chứng ban đầu tiến triển thành co giật hoặc mất thính lực do tổn thương thần kinh tai trong (mất thính lực thần kinh giác quan).
Bởi vì mức độ nghiêm trọng của các dấu hiệu và triệu chứng, trẻ mắc bệnh thường chỉ sống đến giai đoạn trẻ nhỏ.
Độ phổ biến
Hội chứng giảm ADN ti thể liên-quan-RRM2B, thể bệnh não-cơ có bệnh ống thận là bệnh di truyền hiếm gặp. Hiện nay, người ta chưa xác định được tỉ lệ mắc bệnh chính xác. Ít nhất 15 trường hợp đã được báo cáo trong y văn.
Nguyên nhân
Đột biến gen RRM2B là nguyên nhân gây ra hội chứng. Gen RRM2B cung cấp hướng dẫn tạo ra tiểu đơn vị nhỏ cảm ứng p53 (p53R2) của một protein được gọi là ribonucleotide reductase (RNR). RNR giúp sản xuất các nucleotide. Các khối này sắp xếp theo trật tự chính xác để tạo thành ADN.
Các RNR chứa p53R2 tạo ra nucleotide sử dụng cho sự hình thành ADN trong các cấu trúc tế bào chuyên biệt được gọi là ti thể. Mặc dù đa số ADN được đóng gói trong nhiễm sắc thể bên trong nhân tế bào (ADN nhân), ti thể cũng có một lượng nhỏ ADN riêng (ADN ti thể hay mtDNA). Ti thể là trung tâm sản xuất năng lượng trong tế bào nên ADN ti thể chứa các gen thiết yếu cho quá trình sản xuất năng lượng. Quá trình sản xuất nucleotide bởi p53R2 duy trì lượng mtDNA bình thường trong tế bào.
Đột biến gen RRM2B làm giảm hoạt động hoặc số lượng RNR, từ đó quá trình sản xuất nucleotide mtDNA giảm theo. Thiếu nucleotide có sẵn cho sản xuất phân tử mtDNA dẫn đến giảm lượng mtDNA, từ đó chức năng ti thể suy giảm.
Người ta vẫn chưa rõ tại sao suy giảm mtDNA ảnh hưởng đến não và thận trên bệnh nhân, nhưng nhu cầu năng lượng cao của các mô này có thể khiến chúng nhạy cảm với cái chết tế bào do suy giảm mtDNA.
Chẩn đoán
Chẩn đoán hội chứng giảm ADN ti thể liên-quan-RRM2B, thể bệnh não-cơ có bệnh ống thận dựa trên các biểu hiện lâm sàng nghiêm trọng trong giai đoạn sơ sinh, bao gồm giảm trương lực cơ, nhiễm axit lactic và suy giảm thần kinh. Bệnh ống thận cũng có thể xuất hiện trong một số trường hợp. Sinh thiết cơ thường cho thấy tình trạng thiếu cytochrome c oxidase, tích tụ mỡ bệnh lí trong sợi cơ và suy giảm nghiêm trọng chuỗi hô hấp ti thể. Ngoài ra, MRI não có thể phát hiện nồng độ lactate tăng cao.
Chẩn đoán dựa trên xét nghiệm di truyền (như giải trình tự exome hoặc giải trình tự Sanger) nhằm xác định đột biến đồng hợp tử hoặc dị hợp tử kép trên gen RRM2B.
Điều trị
Hiện nay, chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu cho hội chứng giảm ADN ti thể liên-quan-RRM2B, thể bệnh não-cơ có bệnh ống thận. Bởi vì bệnh nhân được tiên lượng bệnh nghiêm trọng và thường tử vong sớm trong giai đoạn trẻ nhỏ, phương pháp điều trị chủ yếu là chăm sóc giảm nhẹ.
Dạng di truyền
Hội chứng giảm ADN ti thể liên-quan-RRM2B, thể bệnh não-cơ có bệnh ống thận di truyền theo kiểu lặn trên nhiễm sắc thể thường, nghĩa là cả hai bản sao của gen trong mỗi tế bào đều mang đột biến. Cha mẹ của một cá nhân mắc bệnh lặn trên nhiễm sắc thể thường mỗi người mang một bản sao của gen bị đột biến, nhưng họ thường không có dấu hiệu và triệu chứng của bệnh.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Phòng ngừa
Hội chứng giảm ADN ti thể liên-quan-RRM2B, thể bệnh não-cơ có bệnh ống thận di truyền lặn, cha mẹ mang đột biến dị hợp nên gần như không có biểu hiện bệnh, do đó rất khó phát hiện cho đến khi sinh con. Để chủ động phòng ngừa, cha mẹ nên làm xét nghiệm sàng lọc gen lặn cho tương lai của con. Các thành viên trong gia đình nên khám sức khỏe và tầm soát bệnh định kì nếu có thành viên mắc bệnh. Các cặp vợ chồng trước khi mang thai cần tư vấn và xét nghiệm di truyền nhằm đảm bảo sinh con khỏe mạnh.
Các tên gọi khác
- Mitochondrial DNA depletion syndrome 8A (encephalomyopathic type with renal tubulopathy)
- MTDPS8A
- RRM2B-MDS
References
- National Organization for Rare Disorders (NORD). Mitochondrial DNA depletion syndrome. Retrieved October 24, 2025 from https://rarediseases.info.nih.gov/diseases/13643/index
- National Organization for Rare Disorders (NORD). Familial hyperaldosteronism type I. Retrieved October 24, 2025 from https://rarediseases.info.nih.gov/diseases/13200/index
- OMIM (2025). MITOCHONDRIAL DNA DEPLETION SYNDROME 8A (ENCEPHALOMYOPATHIC TYPE WITH RENAL TUBULOPATHY); MTDPS8A. Retrieved October 24, 2025 from https://omim.org/entry/612075
- MedlinePlus (2025). RRM2B-related mitochondrial DNA depletion syndrome, encephalomyopathic form with renal tubulopathy. Retrieved October 24, 2025 from https://medlineplus.gov/genetics/condition/rrm2b-related-mitochondrial-dna-depletion-syndrome-encephalomyopathic-form-with-renal-tubulopathy/
