Hội chứng giả suy tuyến thượng thận loại 2 (Pseudohypoaldosteronism type 2 – PHA2) phát sinh do những bất thường trong quá trình điều tiết nồng độ natri và kali trong cơ thể. Các ion này nắm vai trò chủ chốt trong cơ chế kiểm soát huyết áp, quá trình điều tiết diễn ra chủ yếu tại thận.
Biểu hiện lâm sàng
Bệnh nhân mắc hội chứng giả suy tuyến thượng loại 2 có biểu hiện tăng huyết áp và nồng độ kali trong máu cao (tăng kali máu) mặc dù chức năng thận bình thường. Độ tuổi khởi phát bệnh thay đổi và khó xác định chính xác. Một số trường hợp được chẩn đoán trong giai đoạn sơ sinh hoặc giai đoạn trẻ nhỏ, trong khi những trường hợp khác được chẩn đoán trong độ tuổi trưởng thành. Tăng kali máu thường xảy ra trước, sau đó là tăng huyết áp.
Bệnh nhân đồng thời có nồng độ clorua cao (tăng clorua máu) và nồng độ axit trong máu cao (nhiễm toan chuyển hóa). Các triệu chứng không điển hình liên quan đến tăng kali máu, tăng clorua máu và nhiễm toan chuyển hóa bao gồm:
- Buồn nôn
- Nôn mửa
- Mệt mỏi cực độ
- Yếu cơ
Ngoài ra, một số bệnh nhân có nồng độ canxi trong nước tiểu cao (tăng canxi niệu).
Độ phổ biến
Hội chứng giả suy tuyến thượng loại 2 là bệnh di truyền hiếm gặp. Hiện nay, người ta chưa xác định được tỉ lệ mắc bệnh chính xác.
Nguyên nhân
Hội chứng giả suy tuyến thượng loại 2 bắt nguồn từ các đột biến gen WNK1, WNK4, CUL3 hoặc KLHL3. Những gen này cung cấp hướng dẫn tạo ra các protein tham gia vào quá trình điều hòa huyết áp.
Protein được sản xuất từ gen WNK1 và WNK4 kiểm soát lượng natri và kali bằng cách điều chỉnh các kênh vận chuyển trên màng tế bào, từ đó dòng chảy ion ra vào tế bào được giám sát. Đột biến tại một trong hai gen làm gián đoạn khả năng kiểm soát kênh, dẫn đến nồng độ natri và kali trở nên bất thường rồi gây ra tình trạng tăng huyết áp và tăng kali máu.
Protein từ gen CUL3 (cullin-3) và gen KLHL3 kiểm soát nồng độ protein WNK1 và WNK4 thông qua phức hợp E3 ubiquitin ligase. Phúc hợp này đánh dấu các protein không cần thiết bằng phân tử ubiquitin để chúng được phân giải. Đột biến gen CUL3 hoặc KLHL3 làm suy giảm quá trình phân giải protein WNK4. Tình trạng dư WNK4 gây rối loạn kiểm soát nồng độ natri và kali rồi dẫn đến các biểu hiện lâm sàng.
Chẩn đoán
Hội chứng giả suy tuyến thượng loại 2 thường được chẩn đoán bệnh dựa trên sự kết hợp của các triệu chứng lâm sàng và sinh hóa đặc trưng bao gồm:
- Tăng huyết áp
- Tăng kali máu (trong bối cảnh mức lọc cầu thận - GFR bình thường) kèm theo bài tiết kali qua nước tiểu thấp bất thường
- Tăng clorua máu và nhiễm toan chuyển hóa
- Hoạt độ renin huyết tương thấp hoặc bị ức chế
- Tăng canxi niệu và tiền sử gia đình
Xét nghiệm di truyền được thực hiện nhằm xác nhận kết quả chẩn đoán. Chẩn đoán phân biệt cần lưu ý các nguyên nhân gây tăng kali máu khác như bệnh thận mãn tính hoặc các dạng toan ống thận do thuốc. Chẩn đoán trước sinh có thể thực hiện nếu đột biến di truyền đã được xác định trước đó trên một thành viên trong gia đình.
Điều trị
Chiến lược điều trị hội chứng giả suy tuyến thượng loại 2 chủ yếu dựa trên thuốc lợi tiểu thiazide liều thấp. Nhóm thuốc này đạt hiệu quả cao trong kiểm soát các chỉ số sinh hóa và lâm sàng bao gồm:
- Kiểm soát huyết áp (nhằm ngăn ngừa các biến chứng thứ phát)
- Hạ nồng độ kali máu về mức bình thường
- Giảm bài tiết canxi niệu
Cần lưu ý rằng các khoáng chất corticosteroid ngoại sinh không có tác dụng cải thiện những bất thường sinh hóa, đồng thời chúng có thể khiến tình trạng tăng huyết áp trở nên nghiêm trọng hơn.
Dạng di truyền
Hội chứng giả suy tuyến thượng loại 2 đa số di truyền theo kiểu trội trên nhiễm sắc thể thường, nghĩa là một bản sao của gen bị biến đổi trong mỗi tế bào đủ để gây bệnh. Trong phần lớn các trường hợp do đột biến gen WNK1, WNK4 hoặc KLHL3, bệnh nhân thừa hưởng đột biến từ một trong hai cha mẹ mắc bệnh. Đối với đột biến gen CUL3, nhiều trường hợp phát sinh từ các đột biến mới (de novo) xuất hiện trên những người không có tiền sử gia đình mắc bệnh.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Một số trường hợp gây ra bởi đột biến gen KLHL3 di truyền theo kiểu lặn trên nhiễm sắc thể thường, nghĩa là cả hai bản sao của gen trong mỗi tế bào đều mang đột biến. Cha mẹ của cá nhân mắc bệnh lặn trên nhiễm sắc thể thường mỗi người mang một bản sao của gen bị đột biến, nhưng họ thường không có dấu hiệu và triệu chứng của bệnh.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Phòng ngừa
Đối với các thể di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường, nếu cha hoặc mẹ mắc bệnh, con sinh ra có 50% khả năng di truyền đột biến. Để đảm bảo khả năng con không mang gen bệnh, các cặp vợ chồng có thể cân nhắc phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) kết hợp chẩn đoán di truyền tiền làm tổ (PGT). Các thành viên trong gia đình có người mắc bệnh nên thực hiện tầm soát định kì nhằm phát hiện sớm các bất thường về huyết áp và điện giải.
Đối với các trường hợp do di truyền lặn (đột biến gen KLHL3), cha mẹ mang đột biến dị hợp thường không có biểu hiện lâm sàng nên khó phát hiện thông qua thăm khám thông thường. Các cặp vợ chồng chuẩn bị mang thai được khuyến khích thực hiện xét nghiệm sàng lọc gen lặn để chủ động đánh giá nguy cơ di truyền cho thế hệ sau. Việc tham vấn chuyên gia di truyền trước khi mang thai đóng vai trò quan trọng giúp đảm bảo sức khỏe cho trẻ sơ sinh.
Các tên gọi khác
- Familial hyperkalemic hypertension
- Familial hyperpotassemia and hypertension
- Familial hypertensive hyperkalemia
- FHHt
- Gordon hyperkalemia-hypertension syndrome
- Gordon's syndrome
- PHAII
- Pseudohypoaldosteronism type II
References
- National Library of Medicine. Pseudohypoaldosteronism type 2A. Retrieved March 15, 2026 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/gtr/conditions/C1840389/
- National Organization for Rare Disorders (NORD). Pseudohypoaldosteronism type 2. Retrieved March 15, 2026 from https://rarediseases.info.nih.gov/diseases/4553/index
- OMIM. PSEUDOHYPOALDOSTERONISM, TYPE IIA; PHA2A. Retrieved March 15, 2026 from https://omim.org/entry/145260
- MedlinePlus. Pseudohypoaldosteronism type 2. Retrieved March 15, 2026 from https://medlineplus.gov/genetics/condition/pseudohypoaldosteronism-type-2/
- Orphanet. Pseudohypoaldosteronism type 2. Retrieved March 15, 2026 from https://www.orpha.net/en/disease/detail/757
