Hội chứng mất đoạn 18p (monosomy 18p) xảy ra khi một phần hoặc toàn bộ cánh ngắn của nhiễm sắc thể 18 mất đi. Người bệnh thường có các triệu chứng như vóc dáng thấp bé, chậm phát triển trí tuệ, chậm phát triển ngôn ngữ, khuôn mặt dị biệt và một số bất thường thể chất khác.
Biểu hiện lâm sàng
Trẻ sơ sinh mắc hội chứng mất đoạn 18p thường nhẹ cân, chậm tăng trưởng mức độ từ nhẹ đến vừa và yếu cơ. Phần lớn trẻ bệnh có biểu hiện chậm phát triển mức độ vừa. Khả năng ngôn ngữ của trẻ cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng khiến trẻ gặp khó khăn trong giao tiếp, thậm chí không nói được cho đến 7–9 tuổi. Ngoài ra, trẻ còn có thể gặp các vấn đề hành vi và cảm xúc như khó tập trung, thường xuyên bồn chồn và có những biểu hiện cảm xúc không ổn định.
Người bệnh thường có các đặc điểm dị biệt trên khuôn mặt bao gồm:
- Đầu nhỏ
- Khuôn mặt tròn
- Miệng rộng
- Mũi phẳng hoặc rộng
- Tai to
- Tai thấp
- Mắt xa nhau
- Sụp mí
- Nếp quạt
- Lé mắt
- Hàm dưới nhỏ và thụt vào

Ảnh: Đầu nhỏ bất thường
Nguồn: National Human Genome Research Institute

Ảnh: Khoảng cách giữa hai mắt rộng
Nguồn: Elements of Morphology, National Human Genome Research Institute

Ảnh: Mắt bị sụp mí
Nguồn: American Academy of Ophthalmology

Ảnh: Xương hàm và xương cằm nhỏ, thu hẹp
Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Hội chứng mất đoạn 18p còn làm tăng nguy cơ sâu răng và gây ra nhiều dị tật phức tạp. Khoảng 10% trường hợp có triệu chứng não trước không phân chia (holoprosencephaly) dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như chậm phát triển trí tuệ, động kinh và các vấn đề thần kinh khác.
Các dị tật vùng mặt do não trước không phân chia gây ra rất đa dạng, bao gồm:
- Hợp nhất hai hốc mắt thành một kèm khiếm khuyết não bộ nghiêm trọng
- Sứt môi
- Hở hàm ếch
- Răng cửa duy nhất tại giữa hàm trên

Ảnh: Sứt môi
Nguồn: Centers for Disease Control and Prevention

Ảnh: Trẻ bị hở hàm ếch
Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Ngoài ra, hội chứng mất đoạn 18p còn dẫn đến các triệu chứng bao gồm phù bạch huyết tay chân, cổ ngắn, ngực rộng với núm vú xa nhau. Bàn tay và bàn chân người bệnh thường nhỏ hơn bình thường, với những đặc điểm như ngón tay ngắn, ngón út cong hoặc dính ngón chân. Nam giới có thể có dương vật nhỏ và tinh hoàn ẩn. Trong một số ít trường hợp, bệnh nhân có biểu hiện thiếu globulin miễn dịch A, rụng tóc sơ sinh hoặc dị tật tim bẩm sinh.

Nguồn: ellepigrafica/Shutterstock.com
Độ phổ biến
Hội chứng mất đoạn 18p rất hiếm gặp. Nữ giới có nguy cơ mắc bệnh cao hơn nam giới. Cha mẹ sinh con mắc hội chứng mất đoạn 18p thường lớn tuổi hơn so với độ tuổi sinh con trung bình. Hiện nay, trên thế giới có khoảng 120 bệnh nhân.
Nguyên nhân
Đột biến mất một phần hoặc toàn bộ vùng nhiễm sắc thể 18p gây ra hội chứng mất đoạn 18p.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Các gen liên quan đến triệu chứng của bệnh bao gồm:
- Vùng HPE4 (chứa gen TGIF tại 18p11.3): có vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển não trước. Mất đoạn xảy ra tại vùng HPE4, chủ yếu là gen TGIF, khiến não trước không phân chia. Tuy nhiên, không phải tất cả người mất đoạn nhiễm sắc thể này đều biểu hiện triệu chứng.
- Các vùng gen liên quan đến da và tóc: đột biến tại các vùng này có thể dẫn đến một số triệu chứng về tóc bao gồm rụng tóc đơn thuần di truyền trội và rụng tóc từng mảng.
- Gen DYT7: mất đoạn nhiễm sắc thể chứa gen này góp phần gây ra triệu chứng loạn trương lực cơ.
- Vùng 18p11.2 (chứa gen GNAL): liên quan đến nguy cơ rối loạn lưỡng cực và tâm thần phân liệt. Mất đoạn vùng 18p11.2, chủ yếu là gen GNAL, làm tăng khả năng mắc các rối loạn tâm thần này.
Mức độ nghiêm trọng và các biểu hiện lâm sàng của hội chứng mất đoạn 18p phụ thuộc vào kích thước và vị trí chính xác của đoạn nhiễm sắc thể bị mất. Đoạn mất lớn chứa nhiều gen quan trọng có xu hướng gây ra các triệu chứng phức tạp và nghiêm trọng.
Chẩn đoán
Hội chứng mất đoạn 18p được chẩn đoán dựa trên biểu hiện lâm sàng, các đặc điểm thể chất đặc trưng của bệnh và xét nghiệm di truyền. Bác sĩ thường tiến hành thăm khám toàn diện nhằm tìm kiếm các dấu hiệu liên quan đến hội chứng mất đoạn 18p. Phân tích nhiễm sắc thể được sử dụng nhằm xác nhận tình trạng thiếu một phần hoặc toàn bộ cánh ngắn của nhiễm sắc thể 18. Ngoài ra, bệnh nhân cần thực hiện thêm xét nghiệm chuyên sâu nhằm phát hiện và xác định các bất thường liên quan đến bệnh. Trong một số trường hợp, bác sĩ chỉ định thai phụ chẩn đoán trước sinh khi phát hiện thai nhi có dấu hiệu bất thường hoặc có người thân mắc bệnh.
Các kĩ thuật hỗ trợ chẩn đoán trong thai kì bao gồm:

Nguồn: Cleveland Clinic
Điều trị
Các liệu pháp điều trị hội chứng mất đoạn 18p tập trung giải quyết triệu chứng cụ thể của mỗi bệnh nhân.
Trong một số trường hợp, bệnh nhân được đề nghị phẫu thuật nhằm chỉnh sửa các dị tật sọ mặt, xương, mắt cũng như những bất thường khác. Thủ thuật phẫu thuật phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng, vị trí của dị tật, các triệu chứng đi kèm và nhiều yếu tố khác.
Can thiệp sớm có vai trò quan trọng nhằm đảm bảo trẻ có thể phát triển tối đa tiềm năng. Các dịch vụ hỗ trợ đặc biệt có thể hữu ích bao gồm giáo dục đặc biệt, trị liệu ngôn ngữ, vật lí trị liệu và các dịch vụ y tế, xã hội, hướng nghiệp khác. Ngoài ra, tư vấn di truyền cũng mang lại lợi ích cho người bệnh và gia đình.
Dạng di truyền
Hội chứng mất đoạn 18p thường bắt nguồn từ đột biến mới (de novo) xảy ra ngẫu nhiên trong quá trình hình thành trứng/tinh trùng hoặc trong giai đoạn phát triển phôi thai.
Tuy nhiên, trong một số ít trường hợp, hội chứng mất đoạn 18p có thể được di truyền từ cha hoặc mẹ, khi cha hoặc mẹ mang chuyển đoạn cân bằng. Chuyển đoạn cân bằng là hiện tượng đoạn nhiễm sắc thể bị đứt ra rồi gắn vào một nhiễm sắc thể khác mà vật liệu di truyền không bị mất đi hay được thêm vào. Nếu cha hoặc mẹ mang chuyển đoạn cân bằng liên quan đến nhiễm sắc thể 18, các giao tử không cân bằng có thể xuất hiện trong quá trình giảm phân dẫn đến con cái mất đoạn vật liệu di truyền trên nhiễm sắc thể này.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Trong trường hợp hiếm gặp nhất, hội chứng mất đoạn 18p có thể được di truyền từ cha hoặc mẹ mang thể khảm nhiễm sắc thể. Lúc này, cha hoặc mẹ có cả tế bào bình thường và tế bào mang bất thường nhiễm sắc thể. Nếu bất thường này xảy ra trong tế bào sinh sản (tinh trùng hoặc trứng), cha mẹ có thể truyền nhiễm sắc thể bị mất đoạn cho con, ngay cả khi bản thân họ không có triệu chứng hoặc chỉ có triệu chứng rất nhẹ.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Phòng ngừa
Hiện nay, chưa có phương pháp phòng ngừa hội chứng mất đoạn 18p, bởi vì đột biến xảy ra ngẫu nhiên trong quá trình hình thành tế bào sinh sản (trứng, tinh trùng) hoặc trong giai đoạn phát triển sớm của thai nhi. Do đó, thai phụ cần theo dõi chặt chẽ thai kì bằng siêu âm và các xét nghiệm sàng lọc cũng như thăm khám định kì với bác sĩ sản khoa.
Các tên gọi khác
- 18p Deletion Syndrome
- 18p- Syndrome
- Del(18p) Syndrome
- Monosomy 18p Syndrome
- Short Arm 18 Deletion Syndrome
References
- Catalog of Genes and Diseases from OMIM. CHROMOSOME 18p DELETION SYNDROME. Retrieved February 07, 2025 from https://omim.org/entry/146390
- MalaCards. Chromosome 18p Deletion Syndrome (18P-). Retrieved February 07, 2025 from https://www.malacards.org/card/chromosome_18p_deletion_syndrome
- National Library of Medicine. Prenatal diagnosis of de novo monosomy 18p deletion syndrome by chromosome microarray analysisPrenatal diagnosis of de novo monosomy 18p deletion syndrome by chromosome microarray analysis Retrieved February 07, 2025 from https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC6456123/
- National Organization for Rare Disorders. Chromosome 18, Monosomy 18p. Retrieved February 07, 2025 from https://rarediseases.org/rare-diseases/chromosome-18-monosomy-18p/
- Orphanet. Monosomy 18p syndrome. Retrieved February 07, 2025 from https://www.orpha.net/en/disease/detail/1598
- Orphanet Journal of Rare Diseases. Monosomy 18p. Retrieved February 07, 2025 from https://ojrd.biomedcentral.com/articles/10.1186/1750-1172-3-4
- Oxford Academic. Deletion of 18p Syndrome. Retrieved February 07, 2025 from https://academic.oup.com/labmed/article-abstract/42/7/436/2657731
