Amyloidosis là bệnh mắc phải hoặc di truyền do protein dạng sợi gọi là amyloid lắng đọng trong các cơ quan. Hiện tượng này có thể xảy ra tại một số vị trí hoặc khắp cơ thể, ảnh hưởng đến hoạt động của lách, gan, thận, mạch máu và dây thần kinh.
Bệnh amyloidosis được phân thành thành những dạng sau:
AL
Amyloidosis AL còn được gọi là dạng nguyên phát có độ phổ biến cao nhất, xảy ra do tương bào trong tuỷ xương sản xuất quá nhiều protein chuỗi nhẹ, thường liên quan đến bệnh đa u tủy xương. Bệnh ảnh hưởng đến tim, thận, dây thần kinh, da cũng như các cơ quan tiêu hóa.

Nguồn: Frontiers
AA
AA là dạng amyloidosis thứ phát, xuất hiện khi cơ thể mắc một số bệnh viêm mãn tính hoặc nhiễm trùng kéo dài như viêm khớp dạng thấp, viêm ruột, lao phổi, tràn dịch màng phổi. Lúc này, các phân mảnh protein amyloid A trong huyết thanh tích tụ tại thận, gan, tim và hệ tiêu hóa, chúng ảnh hưởng chức năng của những cơ quan này.
ATTR di truyền
Amyloidosis ATTR do di truyền là dạng hiếm gặp, bắt nguồn từ một số đột biến gen, trong đó đột biến transthyretin (TTR) phổ biến nhất. Đột biến gen TTR khiến gan sản xuất protein transthyretin có cấu trúc bất thường, những protein này kết tụ lại thành sợi amyloid lắng đọng trong tim, thận, dây thần kinh.
ATTR lão hoá
Bên cạnh yếu tố di truyền, người bệnh có thể mắc amyloidosis ATTR do lão hoá, thường vào giai đoạn sau 70 tuổi. Trong trường hợp này, protein transthyretin do gan sản xuất có cấu trúc và chức năng bình thường. Tuy nhiên, theo thời gian, chúng dần biến đổi rồi hình thành nên các sợi amyloid gây ảnh hưởng trực tiếp đến tim.
Beta-2 microglobulin (AB2MG)
AB2MG là dạng amyloidosis toàn thân, thường xảy ra đối với những bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối hoặc chạy thận trong trong thời gian dài. Cơ thể người bệnh không thể đào thải protein beta-2 microglobulin, dẫn đến protein tích tụ dưới dạng amyloid. Bệnh không xuất hiện trong những trường hợp thận có chức năng bình thường, suy thận nhẹ hoặc ghép thận thành công.
Biểu hiện lâm sàng
Bệnh amyloidosis ảnh hưởng đến nhiều hệ cơ quan trong cơ thể bao gồm:
Thận
Amyloidosis dạng AL và AA thường gây tổn thương chức năng thận, dẫn đến những triệu chứng sau:
- Nước tiểu chứa nhiều protein dẫn đến hội chứng thận hư
- Tăng urê và các chất chứa nitơ trong máu do thận không lọc được chất thải
- Thận teo, nhạt màu, cứng hoặc phình to bất thường

Nguồn: The New Times
Tim
Các bệnh lí về tim thường xuất hiện đối với bệnh nhân mắc amyloidosis dạng AL và ATTR. Khi amyloid xâm nhập tim, nó có thể lắng đọng tại màng ngoài hoặc màng trong tim, từ đó làm dày thành tim và dẫn đến suy tim.
Ngoài ra, người bệnh có thể xuất hiện một số triệu chứng khác như:
- Tim lớn
- Loạn nhịp tim
- Điện tâm đồ bất thường

Nguồn: Cleveland Clinic
Da
Phần lớn các triệu chứng về da xuất hiện trong dạng nguyên phát, do amyloid lắng đọng trong mô mềm và mạch máu nhỏ dưới da. Bệnh thường gây xuất huyết dưới da quanh hốc mắt cũng như tổn thương da vùng mặt, cổ, nách, hậu môn, bẹn, niêm mạc lưỡi và tai.
Khớp
Khớp
Trong bệnh amyloidosis dạng AL và AB2MG, amyloid thường lắng đọng trong màng hoạt dịch dẫn đến các triệu chứng giống với viêm khớp dạng thấp. Mặt khác, amyloid lắng đọng trong cơ làm yếu cơ. Ngoài ra, dạng AB2MG có thể gây ra hội chứng ống cổ tay, đau vai và viêm bao gân cổ tay.

Nguồn: Wikipedia
Hệ thần kinh
Bệnh lí thần kinh là triệu chứng thường gặp trong amyloidosis dạng AL và ATTR di truyền.
Các vấn đề liên quan đến hệ thần kinh cảm giác và vận động bao gồm:
- Tê bì, ngứa ran từ bàn chân lan đến chân và tay
- Mất khả năng vận động lan rộng từ bàn chân
- Hội chứng ống cổ tay do amyloid tại mô mềm chèn ép dây thần kinh giữa

Nguồn: Cleveland Clinic
Ngoài ra, bệnh ảnh hưởng đến chức năng của hệ thần kinh tự động, dẫn đến các triệu chứng sau:
- Táo bón
- Giảm tiết mồ hôi
- Hạ huyết áp khi đứng, dễ ngất xỉu
- Rối loạn cương dương đối với nam giới
Hệ tiêu hoá
Amyloidosis AL và AA có thể ảnh hưởng đến các cơ quan trong hệ tiêu hoá, dẫn đến gan và lách lớn bất thường, men gan tăng cao, đặc biệt là alkaline phosphatase. Bên cạnh đó, bilirubin (sắc tố hình thành sau quá trình phá vỡ hồng cầu) tăng cao cũng là dấu hiệu dự báo suy gan trong bệnh amyloidosis. Ngoài ra, amyloid tích tụ trong đường tiêu hoá làm giảm khả năng chuyển động của thực quản, ruột non và ruột già.
Hiện tượng này gây ra nhiều triệu chứng như:
- Kém hấp thu chất dinh dưỡng
- Loét, chảy máu đường ruột
- Tắc ruột giả
- Tiêu chảy
- Mất vị giác
- Lưỡi lớn dẫn đến khó nhai và nuốt thức ăn rắn
- Dạ dày tiêu hoá kém gây cảm giác no sớm, chán ăn
Hệ hô hấp
Người bệnh có thể xuất hiện một số vấn đề về đường hô hấp như tắc nghẽn xoang mũi, thanh quản, khí quản, phế quản và tràn dịch màng phổi.

Nguồn: Netmeds
Độ phổ biến
Khoảng 4.000 trường hợp mắc bệnh amyloidosis dạng AL được ghi nhận tại Mỹ hằng năm. Trong đó, 60% bệnh nhân là nam giới. Mặc dù bệnh có thể xảy ra từ độ tuổi 20 nhưng phần lớn bệnh nhân thuộc nhóm 50–65 tuổi.
Ước tính khoảng 5% người mắc amyloidosis dạng AA có liên quan đến những bệnh viêm và nhiễm trùng mãn tính.
Amyloidosis ATTR di truyền xảy ra với tỉ lệ 1/100.000 và 1/25 đối với người da trắng tại Mỹ và người Mỹ gốc Phi. Dạng này cũng phổ biến tại nhiều quốc gia khác như Bồ Đào Nha, Thụy Điển, Nhật Bản, Ireland, Tây Ban Nha, Pháp, Phần Lan, Đức và Hy Lạp.
Nguyên nhân
Trong quá trình tổng hợp protein, các chuỗi axit amin cần gấp cuộn thành cấu trúc 3D nhằm hoàn chỉnh chức năng của chúng. Bệnh amyloidosis xảy ra khi một số protein trong cơ thể gấp cuộn sai. Khi đó, những chuỗi protein dài phân mảnh thành dạng đơn phân, sau đó kết tụ thành cấu trúc sợi không tan gọi là amyloid và lắng đọng trong các mô, cơ quan. Amyloid tích tụ dần theo thời gian sẽ làm giảm chức năng của các cơ quan này. Thông thường, quá trình tổng hợp và phân giải protein diễn ra với tốc độ tương đương nhau. Tuy nhiên, các cụm amyloid có độ bền cao nên phân giải chậm hơn kết tụ. Hiện nay người ta đã xác định 21 protein có khả năng kết tụ thành cấu trúc amyloid.

Nguồn: Khan Academy
Bệnh amyloidosis có thể bắt nguồn từ đột biến gen di truyền hoặc những bất thường mắc phải trong quá trình sống.
Mắc phải
Amyloidosis dạng AL do bất thường về tương bào trong tuỷ xương gây ra. Cụ thể, các tế bào sản xuất quá nhiều protein chuỗi nhẹ (thành phần của kháng thể) dẫn đến những protein này kết tụ thành cụm amyloid và lắng đọng trong các mô cơ thể. Mặt khác, amyloidosis AA liên quan đến các bệnh lí nền như viêm và nhiễm trùng mãn tính. Trong khi đó, người ta chưa thể xác định rõ nguyên nhân dẫn đến amyloidosis dạng AB2MG. Bên cạnh yếu tố thận giảm chức năng do chạy thận trong thời gian dài hoặc suy thận giai đoạn cuối, người ta dự đoán còn những tác nhân khác tham gia vào quá trình tiến triển bệnh.
Di truyền
Di truyền
Amyloidosis dạng di truyền do đột biến một trong số nhiều gen biểu hiện protein tiền amyloid gây ra. Trong đó, đột biến gen TTR dẫn đến amyloidosis ATTR là dạng phổ biến nhất. Gen TTR cung cấp hướng dẫn tạo ra protein transthyretin giữ vai trò vận chuyển vitamin A (retinol) và hormone thyroxine đi khắp cơ thể. Phần lớn transthyretin được tổng hợp tại gan; ngoài ra, đám rối mạch mạc trong não và võng mạc cũng tham gia sản xuất một lượng nhỏ transthyretin.
Người ta đã ghi nhận hơn 100 đột biến khác nhau trên TTR, với phần lớn các trường hợp là đột biến V30M—axit amin valine tại vị trí 30 chuyển thành methionine. Những đột biến này làm thay đổi cấu trúc transthyretin, khiến chúng không thể gấp cuộn đúng cách. Khi đó, cấu trúc tetramer (gồm 4 đơn vị protein) phân giải thành các chuỗi transthyretin đơn lẻ, những chuỗi này bám vào nhau tạo thành các cụm amyloid.

Nguồn: StressMarq Biosciences
Một số đột biến hiếm gặp hơn xảy ra trên những gen tổng hợp các protein sau:
- Fibrinogen A alpha chain
- Apolipoprotein A1, A2
- Gelsolin
- LECT2
- Cystatin C
Chẩn đoán
Bệnh amyloidosis được chẩn đoán dựa trên biểu hiện lâm sàng, tiền sử bệnh cá nhân và gia đình cũng như một số xét nghiệm chuyên biệt.
Sinh thiết
Bác sĩ sinh thiết mẫu mô tại cơ quan nghi ngờ có lắng đọng amyloid, sau đó nhuộm mẫu với một số hoá chất đặc biệt và quan sát dưới kính hiển vi nhằm phát hiện sự hiện diện của các cụm amyloid.
Xét nghiệm máu và nước tiểu
Bác sĩ thu mẫu máu hoặc nước tiểu từ người bệnh và thực hiện điện di miễn dịch nhằm xác định những protein có hàm lượng bất thường liên quan đến amyloidosis, qua đó đánh giá hoạt động của các cơ quan.
Chẩn đoán hình ảnh
Bệnh nhân cần thực hiện các xét nghiệm hình ảnh khác nhau như siêu âm tim hay MRI tuỳ vào vị trí nghi ngờ có sợi amyloid.
Xét nghiệm di truyền
Kết quả chẩn đoán amyloidosis dạng ATTR di truyền cần được xác nhận bằng các xét nghiệm phát hiện đột biến gen TTR.
Phương pháp khác
Một số kỹ thuật chẩn đoán và phân loại amyloidosis tiên tiến bao gồm:
- Nhuộm miễn dịch vàng
- Khối phổ
- Định lượng phóng xạ amyloid P huyết thanh
- Xét nghiệm chuỗi nhẹ tự do, KAPPA và LAMBDA
Điều trị
Bác sĩ lựa chọn phương pháp điều trị tuỳ vào dạng amyloidosis và triệu chứng của bệnh nhân.
Một số liệu pháp điều trị bao gồm:
Hoá trị
Bác sĩ thường chỉ định bệnh nhân uống thuốc melphalan và dexamethasone hoặc tiêm melphalan liều cao kèm cấy ghép tế bào gốc tự thân nhằm loại bỏ các tế bào sản xuất protein chuỗi nhẹ bất thường.
Một số loại thuốc hoá trị khác bao gồm:
- Bortezomib (Velcadea)
- Lenalidomide (Revlimid)
- Bortezomib kèm cyclophosphamide (Cytoxan) và dexamethasone
- CyBorD kết hợp daratumumab
Liệu pháp trúng đích
Phương pháp này sử dụng các loại thuốc nhắm vào cơ quan, mô hoặc gen liên quan trực tiếp đến bệnh, bao gồm:
- Bất hoạt gen TTR: patisiran (Onpattro), inoteresen (Tegsedi)
- Ngăn chặn quá trình TTR phân giải thành dạng đơn phân: acoramidis (Attruby)
- Điều trị bệnh cơ tim do ATTR: tafamidis meglumine (Vyndaqel)
Lọc máu
Trong trường hợp người bệnh mắc amyloidosis dạng AB2MG, bác sĩ có thể chỉ định lọc máu bằng máy Lixelle nhằm loại bỏ protein beta2-microglobulin khỏi máu.
Cấy ghép cơ quan
Bác sĩ có thể chỉ định ghép thận, gan, tim nếu những cơ quan này của người bệnh bị tổn thương hoặc giảm chức năng nghiêm trọng.
Dạng di truyền
Bệnh amyloidosis di truyền theo kiểu trội trên nhiễm sắc thể thường. Do đó, một bản sao của gen TTR đột biến trong mỗi tế bào đủ để gây ra bệnh. Người bệnh thường được di truyền từ cha hoặc mẹ mắc bệnh. Một số ít trường hợp là do đột biến mới (de novo) xuất hiện trong quá trình hình thành tế bào sinh sản (trứng, tinh trùng) hoặc quá trình phát triển phôi sớm. Bên cạnh đó, một số dạng amyloidosis có thể phát triển trong quá trình sống.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Phòng ngừa
Bệnh amyloidosis di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường, nếu cha hoặc mẹ mắc bệnh, con sinh ra sẽ có 50% khả năng di truyền bệnh. Do đó, để bảo đảm 100% khả năng con không bị bệnh, cha mẹ có thể chọn phương pháp thụ tinh nhân tạo IVF và sàng lọc phôi PGS/PGD. Các thành viên trong gia đình nên khám sức khỏe và tầm soát bệnh định kỳ nếu có thành viên mắc bệnh. Các cặp vợ chồng trước khi mang thai cần tư vấn và xét nghiệm di truyền nhằm đảm bảo sinh con khỏe mạnh.
Các tên gọi khác
- Amyloidosis
References
- National Organization for Rare Disorders. Amyloidosis. Retrieved June 7, 2025 from https://rarediseases.org/rare-diseases/amyloidosis/
- Cleveland Clinic. Amyloidosis. Retrieved June 7, 2025 from https://my.clevelandclinic.org/health/diseases/23398-amyloidosis
- National Institutes of Health. Amyloidosis. Retrieved June 7, 2025 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK470285/
- National Health Service. Amyloidosis. Retrieved June 7, 2025 from https://www.nhs.uk/conditions/amyloidosis/
- Mayo Clinic. Amyloidosis. Retrieved June 7, 2025 from https://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/amyloidosis/symptoms-causes/syc-20353178
- Johns Hopkins Medicine. Amyloidosis. Retrieved June 7, 2025 from https://www.hopkinsmedicine.org/health/conditions-and-diseases/amyloidosis
- MedlinePlus. TTR gene. Retrieved June 7, 2025 from https://medlineplus.gov/genetics/gene/ttr/
