Loạn sản ngoại bì giảm tiết mồ hôi (hypohidrotic ectodermal dysplasia) là một trong số hơn 100 loại loạn sản ngoại bì. Những bệnh này dẫn đến quá trình phát triển bất thường của các mô ngoại bì, chủ yếu là da, tóc, móng, răng và tuyến mồ hôi.
Biểu hiện lâm sàng
Phần lớn những người mắc bệnh đều bị giảm tiết mồ hôi do tuyến mồ hôi suy giảm số lượng hoặc hoạt động bất thường. Tiết mồ hôi là cơ chế chủ yếu giúp cơ thể kiểm soát nhiệt độ; mồ hôi bay hơi khỏi bề mặt da sẽ làm mát cơ thể. Giảm tiết mồ hôi có thể dẫn đến thân nhiệt tăng cao đến mức nguy hiểm, đặc biệt khi thời tiết nóng bức. Trong một số trường hợp, tăng thân nhiệt có thể gây ra các vấn đề sức khỏe đe dọa tính mạng.

Nguồn: Terese Winslow LLC
Người mắc loạn sản ngoại bì giảm tiết mồ hôi thường có lông tóc thưa. Tóc của bệnh nhân có màu sáng, dễ gãy và mọc chậm. Bệnh còn gây ra chứng thiểu sản răng nên người bệnh giảm số lượng rang hoặc có răng dị dạng. Răng vĩnh viễn thường xuất hiện muộn hơn bình thường với kích thước nhỏ và hình dáng nhọn.
Một số người bị loạn sản ngoại bì giảm tiết mồ hôi có khuôn mặt dị biệt bao gồm trán dô, môi dày và sống mũi dẹt. Các đặc điểm khác có thể bao gồm:
- Da mỏng, nhăn nheo và sẫm màu quanh mắt
- Các bệnh về da mãn tính như chàm
- Dịch tiết từ mũi có mùi hôi
Tuy nhiên, bệnh không ảnh hưởng đến trí tuệ, khả năng học tập và quá trình phát triển của cơ thể.
Độ phổ biến
Loạn sản ngoại bì giảm tiết mồ hôi là dạng loạn sản ngoại bì phổ biến nhất. Ước tính tỉ lệ mắc bệnh khoảng 1/20.000 trẻ sơ sinh trên toàn thế giới.
Nguyên nhân
Đột biến một trong nhiều gen có thể gây ra loạn sản ngoại bì giảm tiết mồ hôi. Các gen này bao gồm EDA, EDAR, EDARADD và WNT10A. Đột biến gen EDA là nguyên nhân phổ biến nhất với hơn một nửa tổng số trường hợp. Các đột biến gen EDAR, EDARADD và WNT10A mỗi loại chiếm một tỉ lệ nhỏ hơn. Khoảng 10% số người mắc chứng loạn sản ngoại bì giảm tiết mồ hôi vẫn chưa được xác định nguyên nhân di truyền.
Các gen EDA, EDAR và EDARADD cung cấp hướng dẫn tạo ra nhiều loại protein tương tác chặt chẽ trong quá trình phát triển phôi thai. Những protein này tham gia vào đường tín hiệu quan trọng của quá trình tương tác giữa hai lớp tế bào ngoại bì và trung bì. Hoạt động này rất cần thiết để hình thành các cấu trúc ngoại bì như da, lông, móng, răng và tuyến mồ hôi.
Đột biến gen EDA, EDAR hoặc EDARADD ngăn cản tương tác bình thường giữa ngoại bì và trung bì, do đó da, lông, móng, răng và tuyến mồ hôi phát triển kém. Đột biến bất kỳ gen nào trong ba gen này đều dẫn đến các dấu hiệu và triệu chứng chính của chứng loạn sản ngoại bì giảm tiết mồ hôi.
Gen WNT10A cung cấp các hướng dẫn tạo ra một protein tham gia vào đường tín hiệu Wnt. Tín hiệu Wnt kiểm soát hoạt động một số gen nhất định và điều chỉnh tương tác giữa các tế bào trong quá trình phát triển phôi thai. Đường tín hiệu này rất quan trọng đối với phát triển cấu trúc ngoại bì, chủ yếu là răng. Các đột biến gen WNT10A khiến protein suy yếu dẫn đến quá trìng phát triển răng và các cấu trúc khác có nguồn gốc từ lớp tế bào ngoại bì bị gián đoạn.
Khi chứng loạn sản ngoại bì giảm tiết mồ hôi xảy ra do đột biến gen WNT10A, các đặc điểm của bệnh khác biệt nhiều so với đột biến gen EDA, EDAR hoặc EDARADD gây ra. Đột biến gen WNT10A có khả năng gây ra thiếu toàn bộ các răng vĩnh viễn.
Chẩn đoán
Trong phần lớn các trường hợp, loạn sản ngoại bì giảm tiết mồ hôi được chẩn đoán trong thời gian đầu của giai đoạn trẻ nhỏ. Bệnh nhi có các bất thường răng và tóc đặc trưng. Quá trình chẩn đoán được thực hiện dựa trên biểu hiện lâm sàng, tiền sử chi tiết của bệnh nhân và gia đình kèm theo một số xét nghiệm chuyên biệt. Trong nhiều trường hợp, trẻ sơ sinh có thể được chẩn đoán sớm hơn nếu có các triệu chứng bao gồm không dung nạp nhiệt, sốt cao không rõ nguyên nhân hoặc bong tróc da phạm vi rộng.
Các xét nghiệm chuyên biệt nhằm chẩn đoán loạn sản ngoại bì giảm tiết mồ hôi bao gồm:
- Sinh thiết da: phát hiện suy giảm số lượng tuyến mồ hôi ngoại tiết
- Phát hiện tuyến mồ hôi: Đối với phụ nữ mắc bệnh có liên kết X, một xét nghiệm đặc biệt sử dụng iốt và tinh bột ngô có thể phát hiện các vùng không có tuyến mồ hôi trên cơ thể người bệnh. ngoài ra, quan sát trực tiếp nhằm xác định số lượng lỗ chân lông mồ hôi cũng là một phương pháp hữu ích
- Xét nghiệm kích thích mồ hôi: sử dụng pilocarpine và dòng điện nhằm kích thích tiết mồ hôi và đo lường lượng mồ hôi tạo thành. Trong một số trường hợp, bôi chất o-phthalaldehyde lên da lòng bàn tay có thể được sử dụng trong phát hiện giảm tiết mồ hôi
- Chụp X-quang nha khoa: xác định thiểu sản răng và các bất thường về răng khác
Xét nghiệm đột biến gen EDA, EDAR có thể được sử dụng để xác nhận kết quả chẩn đoán.
Điều trị
Điều trị loạn sản ngoại bì giảm tiết mồ hôi tập trung vào các triệu chứng cụ thể của từng cá nhân, do đó cần có sự hợp tác của một nhóm chuyên gia đa ngành, bao gồm bác sĩ nhi khoa, bác sĩ da liễu, nha sĩ, bác sĩ tai mũi họng và các chuyên gia về miễn dịch.
Nếu có điều kiện, người bệnh nên sống tại các vùng có khí hậu mát mẻ. Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ cần được theo dõi và hỗ trợ kịp thời nhằm ngăn ngừa các đợt sốt cao. Ngoài ra, các biện pháp phòng ngừa và bảo vệ khác bao gồm tránh nắng, uống nhiều nước, sử dụng khăn mát, tắm bằng bọt biển, sử dụng điều hòa không khí và các biện pháp làm mát khác.
Can thiệp nha khoa sớm cũng rất quan trọng. Răng giả và các thiết bị khác có thể được sử dụng nhằm thay thế răng bị thiếu và điều chỉnh các bất thường về răng. Tóc giả có thể hữu ích cho những người bị rụng tóc.
Loại bỏ dịch tiết mũi thường xuyên và theo dõi nhiễm trùng đường hô hấp rất cần thiết đối với người bệnh. Sử dụng nước mắt nhân tạo có thể giúp ngăn ngừa tổn thương giác mạc trên những bệnh nhân bị giảm tiết nước mắt.
Can thiệp sớm và hỗ trợ bao gồm giáo dục đặc biệt, hỗ trợ xã hội và các dịch vụ y tế nhằm giúp trẻ em mắc bệnh phát triển toàn diện. Tư vấn di truyền cũng rất cần thiết cho bệnh nhân và gia đình.
Dạng di truyền
Loạn sản ngoại bì giảm tiết mồ hôi có một số kiểu di truyền. Phần lớn trường hợp do đột biến gen EDA di truyền theo kiểu lặn liên kết với nhiễm sắc thể giới tính X. Nam giới chỉ có một nhiễm sắc thể X, do đó một bản sao của gen SLC16A2 đột biến trong mỗi tế bào đủ gây ra triệu chứng nghiêm trọng. Người cha bị bệnh không thể truyền gen đột biến này cho con trai. Phụ nữ có hai nhiễm sắc thể X, đột biến tại một bản sao của gen SLC16A2 thường chỉ gây ra các triệu chứng nhẹ.
Ngoài ra, bệnh còn có thể di truyền theo kiểu trội trên nhiễm sắc thể thường. Do đó, một bản sao của gen trong mỗi tế bào đủ để gây ra bệnh. Người bệnh thường được di truyền từ cha hoặc mẹ mắc bệnh. Các đột biến gen EDAR, EDARADD hoặc WNT10A theo kiểu di truyền này. Một số ít trường hợp bắt nguồn từ đột biến mới (denovo) trong quá trình hình thành tế bào sinh sản (trứng, tinh trùng) hoặc quá trình phát triển phôi sớm.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Loạn sản ngoại bì giảm tiết mồ hôi còn di truyền theo kiểu lặn trên nhiễm sắc thể thường. Do đó, bệnh chỉ biểu hiện khi có cả hai bản sao của gen đột biến trong mỗi tế bào. Tuy nhiên, trường hợp này rất hiếm gặp

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Phòng ngừa
Trong trường hợp bệnh di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường, nếu cha hoặc mẹ mắc bệnh, con sinh ra sẽ có 50% khả năng di truyền bệnh. Do đó, để bảo đảm 100% khả năng con không bị bệnh, cha mẹ có thể chọn phương pháp thụ tinh nhân tạo IVF và sàng lọc phôi PGS/PGD. Các thành viên trong gia đình nên khám sức khỏe và tầm soát bệnh định kỳ nếu có thành viên mắc bệnh. Các cặp vợ chồng trước khi mang thai cần tư vấn và xét nghiệm di truyền đảm bảo sinh con khỏe mạnh.
Đối với bệnh di truyền theo kiểu lặn trên nhiễm sắc thể thường hoặc liên kết với nhiễm sắc thể X, rất khó phát hiện bệnh cho đến khi sinh con. Cha mẹ nên làm xét nghiệm sàng lọc gen lặn để chủ động cho tương lai của con. Các cặp vợ chồng trước khi mang thai cần tư vấn và xét nghiệm di truyền đảm bảo sinh con khỏe mạnh. Người thuộc nhóm nguy cơ mắc bệnh cần khám sức khỏe và tầm soát bệnh định kỳ.
Các tên gọi khác
- Anhidrotic ectodermal dysplasia
- Christ-Siemens-Touraine syndrome
- CST syndrome
- HED
References
- Genetic Testing Information. Ectodermal dysplasia 10A, hypohidrotic/hair/nail type, autosomal dominant. Retrieved June 26, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/gtr/conditions/C3888065/?_ga=2.71881683.1915637000.1719405397-1635318420.1684225451
- Genetic and Rare Diseases Information Center. Autosomal dominant hypohidrotic ectodermal dysplasia. Retrieved June 26, 2024 from https://rarediseases.info.nih.gov/diseases/2048/index
- Catalog of Genes and Diseases from OMIM. ECTODERMAL DYSPLASIA 10A, HYPOHIDROTIC/HAIR/NAIL TYPE, AUTOSOMAL DOMINANT; ECTD10A. Retrieved June 26, 2024 from https://omim.org/entry/129490
- U.S National Library of Medicine. Hypohidrotic ectodermal dysplasia. Retrieved June 26, 2024 from https://medlineplus.gov/genetics/condition/hypohidrotic-ectodermal-dysplasia/
- MalaCards. Hypohidrotic Ectodermal Dysplasia with Immunodeficiency. Retrieved June 26, 2024 from https://www.malacards.org/card/hypohidrotic_ectodermal_dysplasia_with_immunodeficiency
- National Organization for Rare Disorders. Hypohidrotic Ectodermal Dysplasia. Retrieved June 26, 2024 from https://rarediseases.org/rare-diseases/hypohidrotic-ectodermal-dysplasia/
- Orphanet. Hypohidrotic ectodermal dysplasia. Retrieved June 26, 2024 from https://www.orpha.net/en/disease/detail/238468
- National Library of Medicine. Hypohidrotic Ectodermal Dysplasia. Retrieved June 26, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4705176/
- National Library of Medicine. Hypohidrotic Ectodermal Dysplasia. Retrieved June 26, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK1112/
