Bệnh đa nhân (multiminicore disease) là bệnh di truyền ảnh hưởng đến các cơ dùng để vận động (cơ xương). Bệnh gây yếu cơ và các vấn đề sức khỏe liên quan, với mức độ từ nhẹ đến nguy hiểm đến tính mạng. Các nhà nghiên cứu đã xác định ít nhất bốn dạng của bệnh đa nhân, được phân biệt bởi các dấu hiệu và triệu chứng đặc trưng.
Ảnh: Cột sống bình thường và cột sống bị vẹo
Nguồn: U.S. National Library of Medicine

Ảnh: Mí mắt sụp xuống
Nguồn: Elements of Morphology, National Human Genome Research Institute

Ảnh: Cấu trúc của ti thể
Nguồn: Designua/Shutterstock.com
Biểu hiện lâm sàng
Dạng cổ điển là dạng bệnh đa nhân phổ biến nhất với tỉ lệ khoảng 75% các trường hợp. Bệnh gây ra tình trạng yếu cơ bắt đầu từ khi còn nhỏ hoặc sơ sinh, chủ yếu các cơ thân và cổ (cơ trung tâm). Các cơ tay và chân ít bị tác động hơn. Trẻ sơ sinh bị bệnh thường có biểu hiện giảm trương lực cơ và có thể khó bú mẹ. Yếu cơ có thể làm chậm phát triển các kĩ năng vận động như ngồi, đứng và đi bộ. Các cơ tại lồng ngực và cột sống trở nên cứng lại, kết hợp với yếu cơ hô hấp, từ đó người bệnh gặp các vấn đề hô hấp nghiêm trọng hoặc đe dọa tính mạng. Gần như tất cả trẻ em mắc dạng này phát triển cong chứng vẹo cột sống trong giai đoạn trẻ nhỏ và tiến triển ngày càng nặng hơn theo thời gian.
Dạng tiến triển với tổn thương tay gây yếu cơ và lỏng lẻo khớp (tăng tính linh hoạt của khớp) trên cánh tay và bàn tay. Người mắc dạng này có thể cảm thấy đau cơ hoặc mệt mỏi cực độ khi hoạt động thể chất. Dạng này chiếm khoảng 10% các trường hợp mắc bệnh.
Dạng trước sinh với co cứng khớp có biểu hiện đặc trưng như các khớp cứng và không linh hoạt trên toàn cơ thể (co cứng khớp) và các đặc điểm khuôn mặt. Yếu cơ hô hấp có thể gây khó thở. Dạng này cũng chiếm khoảng 10% các trường hợp.
Dạng liệt cơ mắt gây liệt các cơ mắt, dẫn đến mắt chuyển động bất thường và sụp mí . Bệnh cũng có thể gây yếu các cơ gần trung tâm cơ thể, như cơ tại cánh tay trên và chân. Dạng này chiếm từ 5 đến 10% các trường hợp.
Ngoài ra, nhiều người mắc bệnh đa nhân có nguy cơ cao gặp phản ứng nghiêm trọng với một số loại thuốc dùng trong phẫu thuật hoặc các thủ thuật xâm lấn, hiện tượng này được gọi là tăng thân nhiệt ác tính. Phản ứng này xảy ra khi bệnh nhân sử dụng một số loại thuốc gây mê hoặc thuốc giãn cơ, họ bị tăng nhịp tim, tăng thân nhiệt, thở nhanh bất thường, cứng cơ, tổn thương cơ và tăng axit trong máu. Những biến chứng này có thể đe dọa tính mạng nếu không được điều trị kịp thời.
Bệnh đa nhân được đặt tên dựa trên các vùng nhỏ, không tổ chức được tìm thấy trong các tế bào cơ xương của nhiều người bệnh khi quan sát dưới kính hiển vi (minicores). Các vùng này thường xuất hiện trong các tế bào có ít hoặc không có ti thể . Mặc dù sự hiện diện của đa nhân giúp bác sĩ chẩn đoán bệnh, người ta chưa rõ chúng liên quan như thế nào đến yếu cơ và các đặc điểm khác của bệnh.
Độ phổ biến
Bệnh đa nhân là bệnh di truyền hiếm gặp. Hiện nay người ta chưa xác định được tỉ lệ mắc bệnh.
Nguyên nhân
Các đột biến gen SELENON và RYR1 gây ra khoảng 50% trường hợp mắc bệnh đa nhân.
Khoảng 30% trường hợp, chủ yếu là dạng cổ điển, bắt nguồn từ các đột biến gen SELENON. Gen này cung cấp hướng dẫn tạo ra protein selenoprotein N—protein hoạt động mạnh trong nhiều mô trước khi sinh và có thể tham gia vào quá trình hình thành mô cơ. Protein này cũng quan trọng cho chức năng cơ bình thường sau khi sinh, mặc dù hoạt động tại mức thấp hơn trên người trưởng thành. Protein selenoprotein N dường như tham gia duy trì cân bằng canxi trong tế bào—một yếu tố quan trọng cho chuyển động cơ. Tuy nhiên, người ta chưa rõ các đột biến gen SELENON gây yếu cơ và các đặc điểm khác của bệnh như thế nào.
Đột biến gen RYR1 ảnh hưởng đến 20% người bệnh, chủ yếu gây nên các dạng bệnh không cổ điển. Gen này tạo ra protein thụ thể ryanodine 1 với vai trò trọng yếu trong cơ xương. Protein này tạo thành một kênh giải phóng ion canxi được lưu trữ trong tế bào cơ nhằm kích thích cơ co bóp để cơ thể vận động. Các đột biến gen RYR1 thay đổi cấu trúc và chức năng của kênh canxi nên dòng ion canxi bị rối loạn, từ đó hiện tượng yếu cơ xuất hiện. Các đột biến này cũng liên quan đến nguy cơ tăng thân nhiệt ác tính.
Người mắc bệnh đa nhân nhưng không mang đột biến trong hai gen này có thể có đột biến trên các gen khác. Tuy nhiên các gen khác vẫn chưa được xác định.
Chẩn đoán
Nhằm chẩn đoán bệnh đa nhân, bệnh nhân cần khám sức khỏe tổng quát.
Một số xét nghiệm có thể được thực hiện bao gồm:
- Chụp MRI cơ để kiểm tra cấu trúc cơ.
- Sinh thiết cơ nhằm lấy một mẫu cơ nhỏ để quan sát dưới kính hiển vi rồi kiểm tra sự hiện diện của các cấu trúc đa nhân và tỉ lệ các loại sợi cơ (thường người mắc bệnh có nhiều sợi cơ loại 1 hơn).
- Xét nghiệm di truyền sử dụng mẫu máu để xác định đột biến gen SELENON hoặc RYR1. Nhờ tiến bộ trong xét nghiệm di truyền, một số người có thể được chẩn đoán mà không cần sinh thiết cơ, dựa trên các đột biến gen được xác định.
Khi một đột biến gen được tìm thấy trên một thành viên trong gia đình, các thành viên khác có thể được xét nghiệm nhằm xác định người mang gen hoặc chẩn đoán bệnh.
Điều trị
Quá trình điều trị bệnh đa nhân cần sự phối hợp của nhiều chuyên gia y tế để quản lí triệu chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống.
Các phương pháp điều trị bao gồm:
- Vật lí trị liệu và tập thể dục: bệnh nhân được khuyến khích thực hiện các bài tập nhẹ để duy trì sức mạnh cơ và khả năng vận động, đồng thời hỗ trợ hô hấp và làm chậm tiến triển của co cứng khớp hoặc cong vẹo cột sống. Các bài tập như bơi lội, đi bộ và đạp xe có thể duy trì sức khỏe tim mạch và cân nặng ổn định.
- Chỉnh hình: một số người cần hỗ trợ chỉnh hình nhằm kiểm soát co cứng khớp hoặc cong vẹo cột sống, bao gồm sử dụng nẹp, dụng cụ chỉnh hình hoặc phẫu thuật tùy theo nhu cầu cá nhân.
- Theo dõi hô hấp: yếu cơ hô hấp là vấn đề phổ biến, chủ yếu trên những người có đột biến gen SELENON. Người bệnh cần được theo dõi chức năng hô hấp định kì và tiêm phòng cúm hàng năm để ngăn ngừa nhiễm trùng ngực. Các nghiên cứu giấc ngủ qua đêm có thể phát hiện những vấn đề hô hấp như giảm thông khí ban đêm—nguyên nhân gây đau đầu buổi sáng hoặc mệt mỏi ban ngày. Máy thở không xâm lấn có thể được sử dụng để hỗ trợ hô hấp khi ngủ.
- Theo dõi tim mạch: một số người có nguy cơ mắc bệnh cơ tim, đặc biệt nếu có đột biến gen RYR1. Bệnh nhân cần được theo dõi tim thường xuyên bằng điện tâm đồ, siêu âm tim và máy theo dõi Holter.
Dạng di truyền
Bệnh đa nhân di truyền theo kiểu lặn trên nhiễm sắc thể thường, có nghĩa là cả hai bản sao của gen trong mỗi tế bào đều mang đột biến. Cha mẹ của một cá nhân mắc bệnh lặn trên nhiễm sắc thể thường mỗi người mang một bản sao của gen bị đột biến, nhưng họ thường không có dấu hiệu và triệu chứng của bệnh.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Phòng ngừa
Bệnh đa nhân di truyền lặn đột biến gen SELENON và RYR1, cha mẹ mang đột biến dị hợp nên gần như không có biểu hiện bệnh, do đó rất khó phát hiện cho đến khi sinh con. Để chủ động phòng ngừa, cha mẹ nên làm xét nghiệm sàng lọc gen lặn cho tương lai của con. Các thành viên trong gia đình nên khám sức khỏe và tầm soát bệnh định kì nếu có thành viên mắc bệnh. Các cặp vợ chồng trước khi mang thai cần tư vấn và xét nghiệm di truyền đảm bảo sinh con khỏe mạnh.
Các tên gọi khác
- Minicore disease
- Minicore myopathy
- MmD
- Multi-core congenital myopathy
- Multi-core disease
- Multi-minicore disease
- Multicore disease
- Multicore myopathy
- Multiminicore myopathy
References
- National Library of Medicine. Congenital multicore myopathy with external ophthalmoplegia. Retrieved September 14, 2025 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/gtr/conditions/C1850674/
- Muscular Dystrophy UK. (2025). Multiminicore disease. Retrieved September 14, 2025, from https://www.musculardystrophyuk.org/conditions/a-z/multiminicore-disease/
- OMIM. CONGENITAL MYOPATHY 1B, AUTOSOMAL RECESSIVE; CMYO1B. Retrieved September 14, 2025, from https://omim.org/entry/255320
- MedlinePlus. (2025). Multiminicore disease. Retrieved September 14, 2025, from https://medlineplus.gov/genetics/condition/multiminicore-disease/
