Hội chứng đái huyết sắc tố kịch phát ban đêm (Paroxysmal Nocturnal Hemoglobinuria – PNH) là bệnh hiếm gặp liên quan đến tế bào máu, hồng cầu của người bệnh bị phá hủy nên hemoglobin xuất hiện trong nước tiểu thường vào ban đêm hoặc sáng sớm. Bệnh không phải do di truyền bẩm sinh mà thường bắt nguồn từ đột biến gen xảy ra trong cuộc đời. Hội chứng đái huyết sắc tố kịch phát ban đêm có thể xảy ra tại mọi lứa tuổi, nhưng bệnh thường xuất hiện trong độ tuổi từ 30 đến 40.
Biểu hiện lâm sàng
Người mắc hội chứng đái huyết sắc tố kịch phát ban đêm thường gặp các đợt triệu chứng đột ngột, tái phát, nguyên nhân có thể do các yếu tố như nhiễm trùng hoặc vận động gắng sức. Trong các đợt này, hồng cầu bị phá hủy sớm (tan máu), dẫn đến thiếu máu với các dấu hiệu như mệt mỏi, yếu sức, da nhợt nhạt, khó thở và nhịp tim nhanh. Nước tiểu có màu đỏ sẫm hoặc nâu do hemoglobin (đái huyết sắc tố), thường rõ hơn vào sáng sớm sau khi nước tiểu tích tụ trong bàng quang suốt đêm. Bệnh nhân dễ bị nhiễm trùng do giảm bạch cầu và có nguy cơ rối loạn đông máu do tiểu cầu bất thường, gây huyết khối tại tĩnh mạch lớn, chủ yếu tại gan, bụng hoặc não. Đôi khi, một số bệnh nhân gặp triệu chứng chảy máu nghiêm trọng. Một số người có nguy cơ phát triển bệnh bạch cầu. Những người mắc hoặc đã điều trị thiếu máu bất sản đôi khi phát triển hội chứng đái huyết sắc tố kịch phát ban đêm. Đối với bệnh dạng hiếm, bệnh nhân có thể gặp viêm bất thường, gây viêm màng não vô khuẩn tái phát, phát ban đỏ ngứa (mày đay), đau khớp hoặc viêm ruột.
Độ phổ biến
Hội chứng đái huyết sắc tố kịch phát ban đêm là bệnh hiếm, với tỉ lệ mắc khoảng 1–5 người trong một triệu người trên toàn thế giới. Dạng viêm của bệnh cực kì hiếm, chỉ được ghi nhận trên một số ít người. Tỉ lệ mắc cao hơn trong số những người bị rối loạn tủy xương, như suy tủy xương hoặc hội chứng loạn sản tủy.
Nguyên nhân
Hội chứng đái huyết sắc tố kịch phát ban đêm bắt nguồn từ đột biến gen PIGA trên nhiễm sắc thể X. Gen này cung cấp hướng dẫn tạo ra protein cần thiết để sản xuất glycosylphosphatidylinositol (GPI)—một phân tử giữ các protein bảo vệ trên bề mặt tế bào máu. Đột biến gen PIGA làm gián đoạn quá trình này, khiến tế bào máu thiếu protein bảo vệ nên dễ bị hệ miễn dịch phá hủy thông qua hệ thống bổ thể.
Trong một số trường hợp hiếm gặp, hội chứng đái huyết sắc tố kịch phát ban đêm liên quan đến đột biến gen PIGT di truyền theo kiểu trội trên nhiễm sắc thể thường. Đột biến này làm tăng nguy cơ mắc bệnh khi có thêm đột biến thứ hai trong bản sao còn lại của gen PIGT trong tế bào. Các đột biến này thường là mắc phải, chúng không di truyền từ cha mẹ mà xảy ra ngẫu nhiên trong tế bào máu.
Chẩn đoán
Để chẩn đoán hội chứng đái huyết sắc tố kịch phát ban đêm, bác sĩ dựa vào các triệu chứng như nước tiểu màu đỏ, thiếu máu hoặc dấu hiệu cục máu đông (huyết khối). Các xét nghiệm máu bao gồm đo số lượng tế bào máu, hemoglobin, lactate dehydrogenase (LDH), haptoglobin và bilirubin, giúp xác định tình trạng tan máu và thiếu máu. Xét nghiệm nước tiểu có thể phát hiện hemoglobin hoặc hemosiderin.
Phương pháp chính xác nhất là xét nghiệm tế bào dòng chảy (flow cytometry), sử dụng chất thử đặc biệt (fluorescent aerolysin - FLAER) và kháng thể để kiểm tra tình trạng thiếu protein bảo vệ (như CD55 và CD59) trên bề mặt tế bào máu. Xét nghiệm này phân loại hồng cầu thành ba nhóm gồm bình thường, thiếu một phần hoặc thiếu hoàn toàn protein bảo vệ. Nếu nghi ngờ bệnh đi kèm rối loạn tủy xương (như thiếu máu bất sản hoặc hội chứng loạn sản tủy), xét nghiệm dòng chảy nhạy cao được sử dụng.
Xét nghiệm di truyền có thể tìm đột biến trong gen PIGA hoặc PIGT, nhưng không phải lúc nào cũng cần. Nếu phát hiện hơn 20% tế bào máu bất thường, bác sĩ làm thêm xét nghiệm như D-dimer, kiểm tra chức năng gan, thận hoặc sinh thiết tủy xương nhằm đánh giá tan máu, huyết khối hoặc tổn thương cơ quan. Các phương pháp hình ảnh như siêu âm Doppler bụng, CT phổi hoặc MRI đầu giúp tìm huyết khối hoặc biến chứng.
Điều trị
Điều trị hội chứng đái huyết sắc tố kịch phát ban đêm nhằm giảm tan máu, ngăn biến chứng và cải thiện chất lượng sống. Thuốc ức chế bổ thể như eculizumab hoặc ravulizumab, ngăn chặn hệ miễn dịch phá hủy hồng cầu, giảm hơn 70% nguy cơ huyết khối và hơn 50% nhu cầu truyền máu. Ravulizumab được dùng mỗi 8 tuần, ít gây tan máu kịch phát hơn eculizumab. Trước khi dùng thuốc, bệnh nhân cần tiêm vắc-xin phòng nhiễm khuẩn như Neisseria và dùng kháng sinh dự phòng.
Truyền máu được sử dụng khi thiếu máu nặng. Axit folic được bổ sung để hỗ trợ tạo hồng cầu. Thuốc chống huyết khối giúp ngăn cục máu đông. Trong trường hợp rối loạn tủy xương nghiêm trọng, ghép tế bào gốc tạo máu có thể chữa khỏi bệnh, nhưng có nguy cơ gây biến chứng. Điều trị tổn thương thận cấp có thể dùng liệu pháp thay thế thận liên tục. Bệnh nhân cần theo dõi định kỳ mỗi 6–12 tháng để kiểm tra tình trạng bệnh và kích thước dòng tế bào bất thường.
Dạng di truyền
Hội chứng đái huyết sắc tố kịch phát ban đêm thường là rối loạn mắc phải, không di truyền. Phần lớn trường hợp do đột biến mới trong gen PIGA, xảy ra trong số những người không có tiền sử gia đình mắc bệnh. Trong trường hợp hiếm liên quan đến gen PIGT, bệnh có thể di truyền theo kiểu trội trên nhiễm sắc thể thường, nghĩa là một bản sao gen đột biến từ cha hoặc mẹ làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Tuy nhiên, bệnh thường cần thêm đột biến thứ hai trong tế bào để biểu hiện. Do đó, hội chứng đái huyết sắc tố kịch phát ban đêm hiếm khi truyền qua các thế hệ.
Phòng ngừa
Bởi vì hội chứng đái huyết sắc tố kịch phát ban đêm chủ yếu là rối loạn mắc phải, hiện nhay chưa có biện pháp ngăn ngừa cụ thể cho đột biến ngẫu nhiên trong gen PIGA. Trong các trường hợp hiếm liên quan đến gen PIGT, tư vấn di truyền được khuyến nghị cho gia đình có người mắc bệnh. Các cặp vợ chồng có nguy cơ cao có thể cân nhắc thụ tinh nhân tạo (IVF) kết hợp sàng lọc phôi (PGS/PGD) để giảm nguy cơ di truyền đột biến. Khám sức khỏe định kỳ và xét nghiệm máu giúp phát hiện sớm dấu hiệu của hội chứng đái huyết sắc tố kịch phát ban đêm, chủ yếu trong số những người mắc rối loạn tủy xương.
Các tên gọi khác
- Hemoglobinuria, paroxysmal
- Marchiafava-Micheli syndrome
- PNH
References
- National Library of Medicine. Paroxysmal nocturnal hemoglobinuria. Retrieved July 13, 2025 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/gtr/conditions/C0024790/
- Genetic and Rare Diseases Information Center. Holoprosencephaly sequence. Retrieved July 13, 2025 from https://rarediseases.info.nih.gov/diseases/7337/index
- OMIM. PHOSPHATIDYLINOSITOL GLYCAN ANCHOR BIOSYNTHESIS CLASS A PROTEIN; PIGA. Retrieved July 13, 2025 from https://omim.org/entry/311770
- MedlinePlus. Paroxysmal Nocturnal Hemoglobinuria. Retrieved July 13, 2025, from https://medlineplus.gov/genetics/condition/paroxysmal-nocturnal-hemoglobinuria/
