Suy tủy xương bẩm sinh (dyskeratosis congenita) là bệnh di truyền ảnh hưởng đến nhiều bộ phận trên cơ thể. Người bệnh có ba biểu hiện đặc trưng gồm.
- Loạn dưỡng móng: móng tay và móng chân kém phát triển hoặc biến dạng
- Thay đổi sắc tố da: chủ yếu trên cổ và ngực, có dạng giống như hoa văn ren
- Bạch sản miệng: những mảng trắng xuất hiện bên trong miệng

Ảnh: Ba biểu hiện phổ biến của suy tủy xương bẩm sinh
Ảnh A: Thay đổi sắc tố da trên cổ và ngực
Ảnh B: loạn dưỡng móng
Ảnh C: bạch sản miệng
Nguồn: Gene Reviews, University of Washington
Biểu hiện lâm sàng
Mức độ nghiêm trọng của suy tủy xương bẩm sinh khác nhau giữa các cá nhân. Đối với trường hợp nhẹ, người bệnh vẫn duy trì chức năng tủy xương bình thường. Trường hợp nặng hơn, bệnh nhân có nguy cơ xuất hiện nhiều biến chứng nghiêm trọng như suy tủy, ung thư hoặc xơ hóa phổi.

Nguồn: National Heart, Lung and Blood Institute
Giảm chức năng tủy xương
Suy tủy xương bẩm sinh gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng, đe dọa đến tính mạng người bệnh. Cụ thể, khi người bệnh có biểu hiện suy giảm chức năng tủy xương làm gián đoạn quá trình sản xuất tế bào máu mới, họ có nguy cơ cao gặp biến chứng thiếu máu bất sản tủy. Lúc này, tủy xương không sản sinh đủ tế bào máu mới để đáp ứng nhu cầu của cơ thể.

Nguồn: Alila Medical Media/Shutterstock.com
Bệnh bạch cầu
Người bệnh cũng có khả năng cao mắc hội chứng rối loạn sinh tủy, bệnh ảnh hưởng đến quá trình phát triển bình thường của tế bào máu chưa trưởng thành. Hội chứng này có thể tiến triển thành bệnh bạch cầu—một dạng ung thư máu nguy hiểm. Mặt khác, trường hợp người bệnh không mắc hội chứng rối loạn sinh tủy, họ vẫn có nguy cơ cao tiến triển bệnh bạch cầu.

Nguồn:© 2008 Terese Winslow LLC for the National Cancer Institute
Bệnh ung thư
Bên cạnh đó, người bệnh có nguy cơ cao mắc nhiều loại ung thư khác, chủ yếu là ung thư tại vùng đầu, cổ, hậu môn hoặc sinh dục.
Triệu chứng khác
Ngoài ra, người bệnh có thể xuất hiện các dấu hiệu và triệu chứng khác, bao gồm:
- Sẹo tích tụ trong phổi gây xơ hóa phổi, làm giảm lượng oxy vận chuyển vào máu
- Ống dẫn nước mắt hẹp, gây tắc nghẽn và kích ứng mi mắt
- Vấn đề về răng, rụng tóc hoặc tóc bạc sớm
- Loãng xương , thoái hóa khớp háng và vai
- Bệnh gan
- Hẹp niệu đạo đối với nam giới, gây tiểu khó tiểu hoặc tiểu buốt, dễ dẫn đến nhiễm trùng đường tiết niệu.
Suy tủy xương bẩm sinh thường không ảnh hưởng đến trí tuệ và phát triển vận động, tuy nhiên, một số trường hợp nghiêm trọng, người bệnh có thể chậm phát triển và thiểu năng trí tuệ. Trong hội chứng Hoyeraal Hreidarsson—dạng nặng của bệnh suy tủy xương bẩm sinh, người bệnh có tiểu não nhỏ và chưa phát triển hoàn thiện, dẫn đến hạn chế trong khả năng điều phối vận động.

Nguồn: National Institutes of Health

Ảnh: Xương khỏe mạnh và xương gãy do loãng xương
Nguồn: Nature

Ảnh: Cấu trúc sinh dục nam
Nguồn: Terese Winslow
Độ phổ biến
Ước tỉnh tỉ lệ mắc bệnh suy tủy xương bẩm sinh khoảng 1/1.000.000 người.
Nguyên nhân
Đột biến gen TERT, TERC, DKC1 hoặc TINF2 gây ra phần lớn các trường hợp suy tủy xương bẩm sinh. Những Gen này cung cấp hướng dẫn tạo ra protein có chức năng duy trì cấu trúc telomere tại đầu của nhiễm sắc thể. Ngoài ra, những đột biến gen khác gây bệnh đều liên quan đến khả năng duy trì telomere. Mặt khác, một số người bệnh không mang đột biến tại những gen liên quan đến suy tủy xương bẩm sinh. Người ta chưa rõ nguyên nhân gây bệnh trong những trường hợp này.

Nguồn: Darryl Leja, NHGRI
Telomere có chức năng ngăn các nhiễm sắc thể không dính vào nhau hoặc phân hủy bất thường, chúng dần ngắn lại sau mỗi lần tế bào phân chia . Vì vậy, sau một số lần phân chia tế bào, telomere trở nên ngắn quá mức, chúng sẽ kích hoạt tế bào chết theo chu trình (apoptosis).

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Trong cơ thể, hai phức hợp telomerase và shelterin có chức năng duy trì cấu trúc telomere. Telomerase duy trì chiều dài telomere bằng cách thêm các đoạn lặp ADN nhỏ vào đầu của nhiễm sắc thể sau mỗi lần tế bào phân chia. Thành phần chính của telomerase gồm hTR và hTERT, chúng lần lượt do gen TERC và TERT tạo ra. Trong đó, hTR là phân tử ARN có chức năng cung cấp khuôn mẫu cho trình tự lặp lại của đoạn ADN, hTERT thêm đoạn ADN mới vào đầu nhiễm sắc thể. Mặt khác, gen DKC1 cung cấp hướng dẫn tạo ra protein dyskerin, dyskerin liên kết với hTR nhằm ổn định phức hợp telomerase.

Nguồn: Designua/Shutterstock.com
Phức hợp shelterin bảo vệ telomere khỏi quá trình sửa chữa ADN trong tế bào. Nếu không có shelterin bảo vệ, cơ thể sẽ nhận diện telomere như những đứt gãy ADN và kích hoạt phản ứng sửa chữa, dẫn đến kết dính nhiễm sắc thể hoặc gây chết tế bào. Gen TINF2 cung cấp hướng dẫn tạo ra protein tham gia vào phức hợp shelterin.
Đột biến gen TERT, TERC, DKC1 hoặc TINF2 ảnh hưởng đến chức năng của phức hợp telomerase hoặc shelterin, dẫn đến khả năng duy trì cấu trúc telomere giảm và chiều dài telomere ngắn lại. Bởi vì telomere ngắn lại, các tế bào phân chia nhanh như nền móng, nang lông, da, niêm mạc miệng và tủy xương chịu ảnh hưởng nghiêm trọng, từ đó các triệu chứng khởi phát.
Bên cạnh đó, nhiễm sắc thể không ổn định do mất telomere có thể gây ra những biến đổi di truyền và cho phép tế bào phân chia không kiểm soát. Chúng là nguyên nhân làm tăng nguy cơ mắc ung thư.

Nguồn: Alila Medical Media/Shutterstock.com

Ảnh: Quá trình phân chia tế bào (Nguyên phân)
Nguồn: Designua/Shutterstock.com

Ảnh: Cấu trúc ADN
Nguồn: Labster Theory pages
Chẩn đoán
Suy tủy xương bẩm sinh được chẩn đoán dựa trên biểu hiện lâm sàng, bệnh sử của bệnh nhân và các triệu chứng đặc trưng, chủ yếu là những dấu hiệu bất thường trên da hoặc miệng. Tuy nhiên, những người có biểu hiện đầu tiên là thiếu máu bất sản hoặc được chẩn đoán xơ phổi thường khó chẩn đoán hơn. Trong trường hợp bệnh nhân bị suy tủy xương, phương pháp xác định cấu trúc telomere trong tế bào máu ngoại vi có thể hỗ trợ chẩn đoán bệnh.
Ngoài ra, người bệnh có thể thực hiện xét nghiệm di truyền nhằm xác định đột biến gen DKC1, TERC, TERT và TINF2, qua đó kết quả chẩn đoán được xác nhận. Ngoài ra, khoảng 50% bệnh nhân có biểu hiện điển hình nhưng không thể phát hiện đột biến.
Điều trị
Hiện nay, chưa có phương pháp điều trị hoàn toàn suy tủy xương bẩm sinh. Các liệu pháp chủ yếu nhằm giảm nhẹ biểu hiện và cải thiện chất lượng đời sống người bệnh.
Một số khuyến nghị chung cho bệnh nhân bao gồm:
- Không hút thuốc và không uống rượu nhằm bảo vệ phổi và gan
- Sử dụng kem dưỡng ẩm để ngăn ngừa tổn thương da
- Vệ sinh răng miệng kĩ càng giúp ngăn ngừa mất răng sớm và làm chậm quá trình phát triển khối u ác tính trên lưỡi
Giảm chức năng tủy xương
Đối với bệnh nhân suy tủy và suy giảm miễn dịch, liệu pháp nội tiết tố androgen và hormone tạo máu có thể mang lại hiệu quả tạm thời. Androgen là các nội tiết tố nam giới, chúng có thể làm tăng số lượng tế bào hồng cầu và tiểu cầu trên một số cá nhân. Liệu pháp androgen có thể kết hợp với corticosteroid như prednisone nhằm làm chậm tốc độ tăng trưởng chiều cao do androgen gây ra và ngăn chảy máu do giảm tiểu cầu.
Ngoài ra, phương pháp ghép tế bào gốc tạo máu từ người hiến tặng tương thích có thể điều trị hoàn toàn suy tủy xương và các bất thường liên quan đến sản xuất tế bào máu. Tuy nhiên, ghép tế bào gốc tạo máu không thể cải thiện mô bị tổn thương và người bệnh có nguy cơ tử vong do biến chứng phổi sau phẫu thuật.

Nguồn: National Cancer Institute
Bệnh bạch cầu
Người ta sử dụng nhóm thuốc yếu tố tăng trưởng tạo máu nhằm điều trị suy tủy xương bẩm sinh, chủ yếu là thuốc yếu tố kích thích bạch cầu hạt (G-CSF) và thuốc yếu tố kích thích bạch cầu hạt–đại thực bào (GM-CSF). Các yếu tố tăng trưởng này có thể giúp cơ thể tăng sản xuất tế bào bạch cầu trung tính tạm thời. Trong một số trường hợp, điều trị bằng thuốc yếu tố tăng trưởng cũng làm tăng số lượng hồng cầu và tiểu cầu. Tuy nhiên, liệu pháp nội tiết tố androgen và yếu tố tăng trưởng chỉ mang lại kết quả tạm thời.

Nguồn: Designua/Shutterstock.com
Bệnh ung thư
Người bệnh suy tủy xương bẩm sinh nhạy cảm với tia xạ và một số loại thuốc hóa trị. Vì vậy, bác sĩ thường áp dụng phác đồ điều trị không chiếu xạ hoặc tránh các loại thuốc hóa trị như busulfan hoặc melphalan. Độ nhạy cao của bệnh nhân với liệu pháp xạ trị và hóa trị gây khó khăn cho điều trị ung thư. Do đó, biện pháp phẫu thuật cắt bỏ khối u là lựa chọn điều trị tối ưu cho người bệnh. Ngoài ra, bác sĩ cần theo dõi chặt chẽ tiến trình phát triển bệnh phổi và ung thư trên bệnh nhân nhằm có phương pháp điều trị phù hợp.
Dạng di truyền
Suy tủy xương bẩm sinh có thể di truyền theo nhiều cơ chế khác nhau. Đối với dạng do đột biến gen DKC1 gây ra, bệnh di truyền theo kiểu lặn liên kết với nhiễm sắc thể giới tính X. Nam giới chỉ có một nhiễm sắc thể X, do đó một bản sao của gen DKC1 đột biến trong mỗi tế bào đủ để gây ra triệu chứng bệnh nghiêm trọng. Người cha bị bệnh không thể truyền gen đột biến này cho con trai. Đối với phụ nữ có hai nhiễm sắc thể X, đột biến tại một bản sao của gen DKC1 thường gây ra các triệu chứng nhẹ.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Trường hợp đột biến diễn ra trên những gen khác, suy tủy xương bẩm sinh có thể di truyền theo kiểu trội trên nhiễm sắc thể thường. Đối với di truyền theo kiểu trội trên nhiễm sắc thể thường, một bản sao của gen trong mỗi tế bào đủ để gây ra bệnh. Người bệnh thường được di truyền từ cha hoặc mẹ mắc bệnh. Một số ít trường hợp là do đột biến mới (denovo) xuất hiện trong quá trình hình thành tế bào sinh sản (trứng, tinh trùng) hoặc quá trình phát triển phôi sớm.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Nếu di truyền theo kiểu lặn trên nhiễm sắc thể thường, bệnh chỉ biểu hiện khi có cả hai bản sao của gen đột biến trong mỗi tế bào. Bệnh nhân mắc bệnh lặn trên nhiễm sắc thể thường sẽ có bố và mẹ mang một bản sao của gen đột biến, nhưng họ ít khi biểu hiện triệu chứng bệnh.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Phòng ngừa
Suy tủy xương bẩm sinh di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường, nếu cha hoặc mẹ mắc bệnh, con sinh ra sẽ có 50% khả năng di truyền bệnh. Do đó, để bảo đảm 100% khả năng con không bị bệnh, cha mẹ có thể chọn phương pháp thụ tinh nhân tạo IVF và sàng lọc phôi PGS/PGD. Các thành viên trong gia đình nên khám sức khỏe và tầm soát bệnh định kì nếu có thành viên mắc bệnh.
Suy tủy xương bẩm sinh di truyền lặn do đột biến nhiều gen, cha mẹ mang đột biến dị hợp nên gần như không có biểu hiện bệnh, do đó rất khó phát hiện cho đến khi sinh con. Cha mẹ nên làm xét nghiệm sàng lọc gen lặn để chủ động cho tương lai của con. Các cặp vợ chồng trước khi mang thai cần tư vấn và xét nghiệm di truyền nhằm đảm bảo sinh con khỏe mạnh. Người thuộc nhóm nguy cơ mắc bệnh cần khám sức khỏe và tầm soát bệnh định kì.
Bệnh có cơ chế di truyền liên-kết-X phức tạp nên khó phát hiện trên những người phụ nữ mang gen bệnh cho đến khi họ sinh con. Người mẹ nên làm xét nghiệm sàng lọc gen lặn để chủ động cho tương lai của con.
Các tên gọi khác
- Zinsser-Cole-Engman syndrome
References
- Genetic Testing Information. Dyskeratosis congenita. Retrieved September 13, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/gtr/conditions/C0265965/
- Genetic and Rare Diseases Information Center. Dyskeratosis congenita. Retrieved September 13, 2024 from https://rarediseases.info.nih.gov/diseases/10905/index
- Catalog of Genes and Diseases from OMIM. DYSKERATOSIS CONGENITA, AUTOSOMAL DOMINANT 1; DKCA1. Retrieved September 13, 2024 from https://omim.org/entry/127550
- U.S National Library of Medicine. Dyskeratosis congenita. Retrieved September 13, 2024 from https://medlineplus.gov/genetics/condition/dyskeratosis-congenita/
- Boston Children's Hospital. What is dyskeratosis congenita? Retrieved September 13, 2024 from https://www.childrenshospital.org/conditions/dyskeratosis-congenita
- MalaCards. Dyskeratosis Congenita, Autosomal Recessive 1 (DKCB1). Retrieved September 13, 2024 from https://www.malacards.org/card/dyskeratosis_congenita_autosomal_recessive_1
- National Institute of Health. Dyskeratosis Congenita. Retrieved September 13, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK507710/
- National Organization for Rare Disorders. Dyskeratosis Congenita. Retrieved September 13, 2024 from https://rarediseases.org/rare-diseases/dyskeratosis-congenita/
- Orphanet. Dyskeratosis congenita. Retrieved September 13, 2024 from https://www.orpha.net/en/disease/detail/1775
