Động kinh thùy trán về đêm di truyền trội (autosomal dominant nocturnal frontal lobe epilepsy) là dạng bệnh động kinh hiếm gặp mang tính chất gia đình. Người bệnh thường có các cơn co giật vào ban đêm khi họ đang ngủ. Trong một số trường hợp, người bệnh có thể biểu hiện cơn co giật vào ban ngày.
Biểu hiện lâm sàng
Động kinh thùy trán về đêm di truyền trội có thể khởi phát bất cứ lúc nào từ giai đoạn sơ sinh đến tuổi trưởng thành, tuy nhiên, phần lớn trường hợp bệnh bắt đầu trong giai đoạn trẻ nhỏ. Các cơn có giật có xu hướng trở nên nhẹ và ít thường xuyên hơn theo tuổi tác. Co giật có thể được kiểm soát hiệu quả bằng thuốc đối với đa số người bệnh.

Nguồn: NEUROSURGERY Neurosurgery
Nguyên nhân chính xác gây ra các cơn co giật của người bệnh chưa rõ ràng. Người ta nhận thấy căng thẳng hoặc mệt mỏi có thể là yếu tố kích hoạt cơn động kinh. Các cơn co giật của bệnh động kinh thùy trán về đêm di truyền trội xảy ra theo từng đợt, mỗi đợt kéo dài từ vài giây đến vài phút. Một số bệnh nhân có những cơn co giật nhẹ đủ để làm họ tỉnh giấc. Trong trường hợp nghiêm trọng hơn, người bệnh biểu hiện các hành động đột ngột, lặp đi lặp lại như quăng quật cánh tay hay đạp chân như đạp xe. Ngoài ra, người bệnh có thể rời khỏi giường và đi lại quẩn quanh, do đó, họ dễ bị nhầm lẫn với mộng du.
Các biểu hiện khác của người bệnh trong lúc ngủ bao gồm:
- La hét
- Rên rỉ
- Thở hổn hển
- Khịt mũi
Các biểu hiện này thường bị chẩn đoán nhầm là do ác mộng hay hoảng loạn. Trong một số loại động kinh bao gồm động kinh thùy trán về đêm di truyền trội, các tiền triệu chứng (aura) thường xuất hiện trước khi người bệnh co giật. Một số bệnh nhân cảm thấy khó thở, thở gấp hoặc nghẹt thở.
Các tiền triệu chứng phổ biến khác bao gồm:
- Ngứa ran
- Rùng mình
- Sợ hãi
- Chóng mặt
- Có cảm giác rơi xuống hoặc bị đẩy
Bệnh không ảnh hưởng đến chức năng não và trí tuệ của người bệnh. Tuy nhiên, một số bệnh nhân có thể bị bệnh lí tâm thần như tâm thần phân liệt, vấn đề hành vi hoặc thiểu năng trí tuệ. Hiện tại, người ta vẫn chưa rõ các bệnh lí tâm thần này có liên quan trực tiếp đến cơn co giật hay không.
Độ phổ biến
Động kinh thùy trán về đêm di truyền trội rất hiếm gặp nên tỉ lệ mắc bệnh chưa được thống kê. Tuy nhiên, bệnh đã được ghi nhận trong 100 gia đình trên toàn thế giới.
Nguyên nhân
Đột biến các gen CHRNA2, CHRNA4 và CHRNB2 có thể gây ra động kinh thùy trán về đêm di truyền trội. Ba gen này cung cấp hướng dẫn tạo ra các tiểu đơn vị của thụ thể acetylcholine nicotinic trong tế bào thần kinh (nAChR). Thụ thể này có chức năng quan trọng đối với quá trình truyền tín hiệu giữa các tế bào thần kinh trong não.

Nguồn: Eunice Kennedy Shriver National Institute of Child Health and Human Development
Các tế bào thần kinh giao tiếp với nhau thông qua chất dẫn truyền thần kinh. Chất này được tế bào thần kinh giải phóng sang những tế bào xung quanh để truyền thông tin. Người ta cho rằng đột biến ba gen phía trên ảnh hưởng đến quá trình giải phóng và hấp thu một số chất dẫn truyền thần kinh, do đó não hoạt động bất thường rồi các cơn co giật xuất hiện.

Nguồn: Designua/Shutterstock.com
Các cơn co giật liên quan đến bệnh động kinh thùy trán về đêm di truyền trội thường bắt đầu từ vùng thùy trán trong não. Thùy trán liên quan đến nhiều chức năng quan trọng như lí luận, lập kế hoạch, phán đoán và giải quyết vấn đề. Hiện tại, người ta vẫn chưa rõ tại sao đột biến các gen này gây ra cơn co giật tại thùy trán thay vì các vị trí khác trong não cũng như lí do các cơn co giật này thường xảy ra khi người bệnh ngủ.

Nguồn: National Institutes of Health
Bên cạnh những gen mã hóa cho thụ thể nAChR, một số gen khác cũng liên quan đến động kinh thùy trán về đêm di truyền trội. Người ta đang xác định các gen này hoặc những đột biến khác nhằm hiểu rõ hơn về nguyên nhân gây bệnh.
Chẩn đoán
Động kinh thùy trán về đêm di truyền trội được chẩn đoán dựa trên bệnh sử cá nhân và gia đình kết hợp với biểu hiện lâm sàng.
Người nghi ngờ mắc bệnh có ít nhất một trong bốn dấu hiệu sau:
- Cơn co giật kéo dài dưới 2 phút
- Phát ra âm thanh không rõ ràng
- Xuất hiện tiền triệu chứng
- Bệnh sử cá nhân có cơn co cứng-co giật trong khi ngủ
Mặt khác, hình ảnh các cơn co giật được ghi nhận bằng phương pháp đo đa kí giấc ngủ. Ngoài ra, người bệnh có thể thực hiện thêm các xét nghiệm di truyền nhằm xác nhận kết quả chẩn đoán.
Điều trị
Trong quá trình điều trị động kinh thùy trán về đêm di truyền trội, thuốc carbamazepine với liều lượng 200-1.000 mg/ngày là lựa chọn hàng đầu. Carbamazepine có khả năng loại bỏ hoàn toàn cơn co giật trên 20% bệnh nhân và giảm đáng kể triệu chứng bệnh trên 48% bệnh nhân.
Một số loại thuốc khác được sử dụng để điều trị bao gồm:
- Oxcarbamazepine
- Topiramate
- Acetazolamide
Miếng dán nicotine trên da có thể mang lại hiệu quả điều trị cho những bệnh nhân không đáp ứng với thuốc chống động kinh thông thường. Ngoài ra, một loại thuốc chặn kênh ion kali là quinidine cũng mang lại kết quả điều trị tích cực trên một số ít bệnh nhân mang đột biến KCNT1. Đột biến gen KCNT1 liên quan đến động kinh thùy trán về đêm di truyền trội và động kinh cục bộ di chuyển ác tính trên trẻ sơ sinh.
Bác sĩ có thể chỉ định phẫu thuật cho những bệnh nhân kháng thuốc nhằm kiểm soát cơn co giật và cải thiện rối loạn giấc ngủ liên quan đến động kinh. Bệnh nhân cũng cần được đánh giá về tâm lí thần kinh và sức khỏe tâm thần định kì.
Di truyền
Động kinh thùy trán về đêm di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường. Do đó, một bản sao của gen trong mỗi tế bào đủ để gây ra bệnh. Người bệnh thường được di truyền từ cha hoặc mẹ mắc bệnh. Một số ít trường hợp khởi nguồn từ đột biến mới (denovo) xuất hiện trong quá trình hình thành tế bào sinh sản (trứng, tinh trùng) hoặc quá trình phát triển phôi sớm.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Phòng ngừa
Động kinh thùy trán về đêm di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường, nếu cha hoặc mẹ mắc bệnh, con sinh ra sẽ có 50% khả năng di truyền bệnh. Do đó, để bảo đảm 100% khả năng con không bị bệnh, cha mẹ có thể chọn phương pháp thụ tinh nhân tạo IVF và sàng lọc phôi PGS/PGD. Các thành viên trong gia đình nên khám sức khỏe và tầm soát bệnh định kì nếu có thành viên mắc bệnh. Các cặp vợ chồng trước khi mang thai cần tư vấn và xét nghiệm di truyền đảm bảo sinh con khỏe mạnh.
Các tên gọi khác
- ADNFLE
References
- Genetic Testing Information. Autosomal dominant nocturnal frontal lobe epilepsy 1. Retrieved January 06, 2025 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/gtr/conditions/C1838049/
- Genetic and Rare Diseases Information Center. Autosomal dominant nocturnal frontal lobe epilepsy. Retrieved January 06, 2025 from https://rarediseases.info.nih.gov/diseases/11918/index
- Catalog of Genes and Diseases from OMIM. EPILEPSY, NOCTURNAL FRONTAL LOBE, 1; ENFL1. Retrieved January 06, 2025 from https://omim.org/entry/600513
- U.S National Library of Medicine. Autosomal dominant nocturnal frontal lobe epilepsy. Retrieved January 06, 2025 from https://medlineplus.gov/genetics/condition/autosomal-dominant-nocturnal-frontal-lobe-epilepsy/
- MalaCards. Autosomal Dominant Nocturnal Frontal Lobe Epilepsy (ENFL). Retrieved January 06, 2025 from https://www.malacards.org/card/autosomal_dominant_nocturnal_frontal_lobe_epilepsy
- National Institute of Health. Autosomal Dominant Sleep-Related Hypermotor (Hyperkinetic) Epilepsy. Retrieved January 06, 2025 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK1169/
- National Institute of Health. Autosomal dominant nocturnal frontal lobe epilepsy. A distinctive clinical disorder. Retrieved January 06, 2025 from https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/7895015/
- Orphanet. Autosomal dominant nocturnal frontal lobe epilepsy. Retrieved January 06, 2025 from https://www.orpha.net/en/disease/detail/98784
