Bệnh trục trung tâm (central core disease) là bệnh di truyền ảnh hưởng đến các cơ vận động (cơ xương). Bệnh này gây ra yếu cơ với các mức độ khác nhau, từ nhẹ đến rất nặng. Mức độ nghiêm trọng của triệu chứng có thể khác nhau ngay cả giữa các thành viên trong cùng một gia đình.
Biểu hiện lâm sàng
Phần lớn người mắc bệnh trục trung tâm có triệu chứng yếu cơ nhẹ, dai dẳng và không tiến triển nặng hơn theo thời gian. Yếu cơ thường ảnh hưởng đến các cơ gần trung tâm cơ thể (cơ gần), chủ yếu là cơ vai, đùi và hông. Đối với trẻ sơ sinh mắc bệnh, yếu cơ có thể làm chậm phát triển các kĩ năng vận động như ngồi, đứng và đi lại. Tuy nhiên, phần lớn bệnh nhân vẫn có thể tự đi lại. Một số người bệnh có thể gặp đau cơ (myalgia) hoặc mệt mỏi quá mức khi vận động (không dung nạp tập luyện). Bệnh cũng liên quan đến các triệu chứng khác như lé mắt (strabismus), cong vẹo cột sống (kyphoscoliosis), biến dạng bàn chân, trật khớp hông và co cứng khớp (contractures). Trong những trường hợp nặng, trẻ sơ sinh có thể bị yếu cơ mặt, giảm trương lực cơ nghiêm trọng (hypotonia) và các vấn đề hô hấp đe dọa tính mạng.
Nhiều người mắc bệnh trục trung tâm cũng có nguy cơ cao gặp phản ứng nghiêm trọng với một số loại thuốc sử dụng trong phẫu thuật và các thủ thuật xâm lấn, được gọi là tăng thân nhiệt ác tính (malignant hyperthermia). Triệu chứng này xảy ra khi tiếp xúc với một số loại khí gây mê được sử dụng để ngăn chặn cảm giác đau hoặc kết hợp với thuốc giãn cơ nhằm gây tê liệt tạm thời trong quá trình phẫu thuật. Nếu sử dụng các loại thuốc này, người có nguy cơ tăng thân nhiệt ác tính có thể gặp phải các triệu chứng như nhịp tim nhanh, tăng thân nhiệt, thở nhanh bất thường, cứng cơ, phân hủy sợi cơ và tăng nồng độ axit trong máu và các mô. Các biến chứng của tăng thân nhiệt ác tính có thể đe dọa tính mạng nếu không được điều trị kịp thời.
Bệnh trục trung tâm có tên gọi như vậy do sự xuất hiện của các vùng mất tổ chức gọi là trục trung tâm (central core), chúng thường nằm giữa các tế bào cơ xương, nhưng cũng có thể tại rìa hoặc kéo dài suốt chiều dài tế bào trên nhiều bệnh nhân. Những vùng bất thường này chỉ có thể quan sát được dưới kính hiển vi khi xét nghiệm mô cơ. Các trục trung tâm thường xuất hiện trong các tế bào có ít hoặc không có ti thể—cơ quan sản xuất năng lượng trong tế bào. Mặc dù sự hiện diện của các trục trung tâm có thể giúp bác sĩ chẩn đoán bệnh, nhưng mối liên hệ giữa chúng với tình trạng yếu cơ và các triệu chứng khác của bệnh vẫn chưa rõ ràng.
Độ phổ biến
Hiện nay, người ta chưa xác định được tỉ lệ mắc bệnh chính xác. Tuy nhiên, bệnh trục trung tâm được cho là bệnh phổ biến nhất trong nhóm các bệnh cơ bẩm sinh. Nhìn chung, các bệnh cơ bẩm sinh ảnh hưởng đến 6/100.000 trẻ sơ sinh.
Nguyên nhân
Bệnh trục trung tâm bắt nguồn từ đột biến gen RYR1. Gen này có chức năng tạo ra protein ryanodine receptor 1—protein giữ vai trò thiết yếu trong cơ xương. Để cơ thể vận động bình thường, các cơ này phải co và giãn một cách nhịp nhàng. Sự co cơ được kích hoạt bởi dòng chảy của các ion vào tế bào cơ. Protein ryanodine receptor 1 tạo thành một kênh giải phóng ion canxi được dự trữ trong tế bào cơ. Khi nồng độ ion canxi trong tế bào cơ tăng lên, sợi cơ co lại để giúp cơ thể vận động.
Đột biến gen RYR1 làm thay đổi cấu trúc của protein ryanodine receptor 1 và kênh canxi. Kênh canxi bất thường thay đổi dòng chảy bình thường của ion canxi dự trữ trong tế bào cơ. Cụ thể, ion canxi có thể rò rỉ chậm nhưng liên tục qua kênh bất thường hoặc không thể đi qua kênh khi cần thiết. Sự gián đoạn trong vận chuyển ion canxi này ngăn cản cơ co bóp bình thường, dẫn đến tình trạng yếu cơ đặc trưng của bệnh trục trung tâm.
Chẩn đoán
Bệnh trục trung tâm được chẩn đoán dựa trên khám lâm sàng, các đặc điểm thể chất đặc trưng, tiền sử bệnh nhân và gia đình cùng các xét nghiệm chuyên biệt. Xét nghiệm gen là bước đầu tiên trong qui trình chẩn đoán, các đánh giá khác được thực hiện nhằm xác nhận kết quả di truyền. Bệnh đôi khi được chẩn đoán trong những năm đầu đời, nhưng không hiếm trường hợp được phát hiện muộn hơn trong giai đoạn trẻ nhỏ, tuổi thiếu niên hoặc trưởng thành sau khi một số bất thường cơ xương liên quan xuất hiện.
Xét nghiệm máu thường cho thấy mức enzyme creatine kinase bình thường hoặc tăng nhẹ trong huyết tương. Kết quả điện cơ đồ (EMG) có thể gần như bình thường nhưng hoạt động điện trong một số sợi cơ có thời gian ngắn bất thường và biên độ thấp. Nghiên cứu tốc độ dẫn truyền thần kinh vận động và cảm giác thường cho kết quả bình thường. Sinh thiết cơ dưới kính hiển vi với thuốc nhuộm chuyên biệt cho thấy các vùng đậm đặc, không rõ ràng trong phần trung tâm của sợi cơ chứa vật liệu sợi cơ. Kính hiển vi điện tử xác nhận tình trạng thiếu ti thể. Ngoài ra, kĩ thuật chụp ảnh tiên tiến có thể quan sát một số bất thường xương liên quan.
Điều trị
Liệu pháp điều trị bệnh trục trung tâm tập trung vào các triệu chứng cụ thể của từng người bệnh. Phương pháp điều trị chủ yếu giảm triệu chứng và hỗ trợ người bệnh. Với trẻ sơ sinh mắc bệnh, cần chú trọng tư thế, sử dụng ghế ngồi thích hợp có đỡ thân và đầu cùng các biện pháp khác. Trường hợp yếu cơ nghiêm trọng, trẻ có thể cần được nuôi ăn qua ống nhằm đảm bảo đủ dinh dưỡng.
Một số bệnh nhân cần áp dụng kĩ thuật chỉnh hình như dùng nẹp chuyên biệt hoặc phẫu thuật nhằm ngăn ngừa và điều trị các bất thường cơ xương. Can thiệp sớm rất quan trọng, bao gồm vật lí trị liệu, hoạt động trị liệu, hỗ trợ thiết bị ngồi và di chuyển. Ngoài ra, bác sĩ cần hướng dẫn cha mẹ cách xử lí, tập luyện và kéo giãn cơ phù hợp cho trẻ. Tư vấn di truyền cũng được khuyến nghị cho người bệnh và gia đình.
Bởi vì người bệnh có nguy cơ tăng thân nhiệt ác tính khi tiếp xúc một số thuốc gây mê hoặc thuốc giãn cơ, thuốc gây mê và các thuốc khác cần được cân nhắc trước khi phẫu thuật. Mọi thủ thuật phẫu thuật, kể cả phẫu thuật nha khoa, phải được thực hiện trong môi trường có bác sĩ gây mê theo dõi chặt chẽ và các biện pháp phòng ngừa cần thiết.
Dạng di truyền
Bệnh trục trung tâm thường di truyền theo kiểu trội trên nhiễm sắc thể thường, nghĩa là chỉ cần một bản sao của gen bị đột biến trong mỗi tế bào là đủ để gây bệnh. Trong một số trường hợp, người bệnh thừa hưởng đột biến từ bố mẹ bị bệnh. Các trường hợp khác có thể do đột biến mới trong gen, xuất hiện trên những người không có tiền sử gia đình mắc bệnh này.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Hiếm hơn, bệnh có thể di truyền theo kiểu lặn trên nhiễm sắc thể thường, nghĩa là cả hai bản sao của gen trong mỗi tế bào đều phải có đột biến. Thông thường, bố mẹ của người mắc bệnh di truyền lặn mỗi người mang một bản sao gen đột biến nhưng không biểu hiện triệu chứng. Tuy nhiên, những người mang một đột biến gen RYR1 có thể có nguy cơ cao tăng thân nhiệt ác tính.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Phòng ngừa
Bệnh trục trung tâm di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường, nếu cha hoặc mẹ mắc bệnh, con sinh ra sẽ có 50% khả năng di truyền bệnh. Do đó, để bảo đảm 100% khả năng con không bị bệnh, cha mẹ có thể chọn phương pháp thụ tinh nhân tạo IVF và sàng lọc phôi PGS/PGD. Các thành viên trong gia đình nên khám sức khỏe và tầm soát bệnh định kì nếu có thành viên mắc bệnh. Các cặp vợ chồng trước khi mang thai cần tư vấn và xét nghiệm di truyền nhằm đảm bảo sinh con khỏe mạnh.
Các tên gọi khác
- CCD
- CCO
- Central core myopathy
- Myopathy, central core
- Shy's disease
- Shy-Magee syndrome
References
- Genetic and Rare Diseases Information Center. Central core myopathy. Retrieved June 2, 2025 from https://rarediseases.info.nih.gov/diseases/6014/index
- OMIM. CONGENITAL MYOPATHY 1A, AUTOSOMAL DOMINANT, WITH SUSCEPTIBILITY TO MALIGNANT HYPERTHERMIA; CMYO1A. Retrieved June 2, 2025 from https://omim.org/entry/117000
- Medlineplus. Central core disease. Retrieved June 2, 2025 from https://medlineplus.gov/genetics/condition/central-core-disease/
