Bệnh hồng cầu hình cầu di truyền (hereditary spherocytosis) là bệnh di truyền về máu ảnh hưởng đến các tế bào hồng cầu.
Biểu hiện lâm sàng
Người bệnh có các biểu hiện đặc trưng như:
- Thiếu hồng cầu
- Vàng mắt và da
- Lách to

Ảnh: Vàng mắt
Nguồn: GI Doctors

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Đa số trẻ sơ sinh mắc bệnh đều có triệu chứng thiếu máu nghiêm trọng. Tuy nhiên, triệu chứng này sẽ cải thiện sau khoảng một năm. Biểu hiện lách to có thể xuất hiện bất cứ thời gian nào từ giai đoạn trẻ nhỏ đến tuổi trưởng thành. Khoảng một nửa bệnh nhân có các chất lắng đọng cứng trong túi mật gọi là sỏi mật. Triệu chứng này thường khởi phát từ cuối giai đoạn trẻ nhỏ đến giữa tuổi trưởng thành.

Nguồn: Terese Winslow
Bệnh hồng cầu hình cầu di truyền gồm bốn dạng với mức độ nghiêm trọng khác nhau.
Bốn dạng của bệnh gồm có:
- Dạng nhẹ: chiếm 20–30% tổng số người bệnh
- Dạng trung bình: chiếm 60–70% tổng số người bệnh
- Dạng trung bình/nghiêm trọng: chiếm 10% tổng số người bệnh
- Dạng nghiêm trọng: chiếm 3–5% tổng số người bệnh
Người bệnh dạng nhẹ có biểu hiện thiếu máu nhẹ hoặc không có triệu chứng. Bệnh dạng trung bình gây thiếu máu, vàng da và lách to. Trong một số trường hợp, người bệnh dạng trung bình có triệu chứng sỏi mật. Các dấu hiệu của dạng này thường khởi phát trong giai đoạn trẻ em. Đối với dạng trung bình/nghiêm trọng, bệnh nhân có tất cả các đặc điểm của dạng trung bình kèm dấu hiệu thiếu máu nghiêm trọng. Người bệnh dạng nghiêm trọng có biểu hiện thiếu máu đe dọa tính mạng. Do đó, bệnh nhân cần truyền máu thường xuyên để bổ sung hồng cầu. Ngoài ra, người bệnh còn xuất hiện triệu chứng lách to, vàng da nghiêm trọng và có nguy cơ sỏi mật cao. Trong một số ít trường hợp, bệnh khiến người bệnh có vóc dáng thấp, chậm phát triển tình dục và biểu hiện liên quan đến xương.

Nguồn: Cleveland Clinic
Độ phổ biến
Bệnh hồng cầu hình cầu di truyền xảy ra trên 1/2.000 người gốc Bắc Âu. Bệnh là nguyên nhân gây thiếu máu di truyền phổ biến nhất đối với dân tộc này. Tỉ lệ mắc bệnh của những người có nguồn gốc dân tộc khác chưa được xác định. Tuy nhiên, bệnh rất hiếm gặp trên những người không có nguồn gốc Bắc Âu.
Nguyên nhân
Đột biến trên ít nhất 5 gen gây ra bệnh hồng cầu hình cầu di truyền. Các gen này cung cấp hướng dẫn sản xuất protein hiện diện trên màng tế bào hồng cầu. Những protein này vận chuyển các phân tử vào và ra khỏi tế bào. Sau đó, chúng gắn các phân tử này vào protein khác và duy trì cấu trúc tế bào. Ngoài ra, một số protein còn có vai trò đảm bảo tính linh hoạt của tế bào hồng cầu vì hồng cầu phải di chuyển từ các mạch máu lớn như động mạch đến các mạch máu nhỏ hơn như mao mạch. Các protein giúp tế bào thay đổi hình dạng mà không bị vỡ khi đi qua mao mạch hẹp.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Đột biến xảy ra tại protein màng tế bào hồng cầu khiến tế bào trở nên cứng và biến dạng. Các tế bào này có hình cầu thay vì hình đĩa dẹt. Sau đột biến, protein màng cản trở khả năng thay đổi hình dạng của tế bào khi nó di chuyển qua các mạch máu. Các tế bào hồng cầu hình cầu bị loại bỏ khỏi quá trình lưu thông và được đưa đến lách để tiêu hủy. Thiếu tế bào hồng cầu trong quá trình lưu thông kết hợp với số lượng lớn tế bào tích tụ trong lách gây ra các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh hồng cầu hình cầu di truyền.
Đột biến gen ANK1 gây ra khoảng một nửa số trường hợp mắc bệnh. Các gen liên quan khác chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ.

Nguồn: Kids Health
Chẩn đoán
Bệnh hồng cầu hình cầu di truyền được chẩn đoán thông qua biểu hiện lâm sàng và bệnh sử của bệnh nhân. Ngoài ra, bác sĩ cũng chỉ định người bệnh thực hiện các xét nghiệm hỗ trợ chẩn đoán.
Các xét nghiệm phổ biến gồm có:
- Công thức máu toàn phần: cung cấp thông tin về máu và tình trạng sức khỏe tổng quát của người bệnh
- Xét nghiệm máu ngoại vi: nhằm kiểm tra kích thước và hình dạng tế bào máu
- Xét nghiệm hồng cầu lưới: để kiểm tra tủy xương có sản xuất đủ tế bào hồng cầu khỏe mạnh hay không
- Nghiệm pháp Coombs: xác định dấu hiệu thiếu máu tan máu tự miễn
- Mức bilirubin: một loại xét nghiệm máu giúp kiểm tra mức bilirubin cao
- Xét nghiệm sức bền hồng cầu: kiểm tra khả năng bị phá vỡ của hồng cầu
- Điện di màng huyết tương: là kĩ thuật sử dụng gel hoặc chất lỏng trên một trường điện để xác định ADN, ARN hoặc protein
Điều trị
Phương pháp điều trị bệnh hồng cầu hình cầu di truyền phụ thuộc vào triệu chứng cụ thể của từng bệnh nhân. Ví dụ, trẻ sơ sinh thiếu máu nghiêm trọng có thể được truyền máu hoặc thuốc kích thích hồng cầu ngay khi có kết quả chẩn đoán.
Một số phương pháp điều trị tiềm năng khác bao gồm:
- Quang trị liệu: điều trị bằng ánh sáng đối với trẻ sơ sinh vàng da
- Truyền máu: nhằm điều trị thiếu máu
- Cắt lách: để điều trị các dạng bệnh hồng cầu hình cầu di truyền nghiêm trọng
- Cắt túi mật: điều trị sỏi mật
- Liệu pháp thải sắt: dành cho bệnh nhân thừa sắt do truyền máu thường xuyên

Nguồn: SAGES
Dạng di truyền
Trong khoảng 75% trường hợp, bệnh hồng cầu hình cầu di truyền theo kiểu trội trên nhiễm sắc thể thường. Do đó, một bản sao của gen trong mỗi tế bào đủ để gây ra bệnh. Người bệnh thường được di truyền từ cha hoặc mẹ mắc bệnh. Một số ít trường hợp do đột biến mới (denovo) xuất hiện trong quá trình hình thành tế bào sinh sản (trứng, tinh trùng) hoặc giai đoạn phát triển phôi sớm.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Ngoài ra, bệnh cũng di truyền theo kiểu lặn trên nhiễm sắc thể thường, nên cả hai bản sao của gen trong mỗi tế bào đều có đột biến. Cha mẹ của một cá nhân mắc bệnh lặn trên nhiễm sắc thể thường đều mang một bản sao của gen đột biến, nhưng họ thường không biểu hiện dấu hiệu và triệu chứng của bệnh.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Phòng ngừa
Khi bệnh hồng cầu hình cầu di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường, nếu cha hoặc mẹ mắc bệnh, con sinh ra sẽ có 50% khả năng di truyền bệnh. Do đó, để bảo đảm 100% khả năng con không bị bệnh, cha mẹ có thể chọn phương pháp thụ tinh nhân tạo IVF và sàng lọc phôi PGS/PGD. Các thành viên trong gia đình nên khám sức khỏe và tầm soát bệnh định kì nếu có thành viên mắc bệnh.
Trong trường hợp bệnh di truyền lặn, cha mẹ mang đột biến dị hợp nên gần như không có biểu hiện bệnh, do đó rất khó phát hiện cho đến khi sinh con. Cha mẹ nên làm xét nghiệm sàng lọc gen lặn để chủ động cho tương lai của con. Các cặp vợ chồng trước khi mang thai cần tư vấn và xét nghiệm di truyền nhằm đảm bảo sinh con khỏe mạnh. Người thuộc nhóm nguy cơ mắc bệnh cần khám sức khỏe và tầm soát bệnh định kì.
Các tên gọi khác
- Congenital spherocytic hemolytic anemia
- Congenital spherocytosis
- HS
- Spherocytic anemia
- Spherocytosis, type 1
References
- Genetic Testing Information. Hereditary spherocytosis type 2. Retrieved December 04, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/gtr/conditions/C2674219/
- Genetic and Rare Diseases Information Center. Hereditary spherocytosis. Retrieved December 04, 2024 from https://rarediseases.info.nih.gov/diseases/6639/index
- Catalog of Genes and Diseases from OMIM. SPHEROCYTOSIS, TYPE 3; SPH3. Retrieved December 04, 2024 from https://omim.org/entry/270970
- U.S. National Library of Medicine. Hereditary spherocytosis. Retrieved December 04, 2024 from https://medlineplus.gov/genetics/condition/hereditary-spherocytosis/
- Cleveland Clinic. Hereditary Spherocytosis. Retrieved December 04, 2024 from https://my.clevelandclinic.org/health/diseases/23058-hereditary-spherocytosis
- MSD Manuals. Hereditary Spherocytosis and Hereditary Elliptocytosis. Retrieved December 04, 2024 from https://www.msdmanuals.com/professional/hematology-and-oncology/anemias-caused-by-hemolysis/hereditary-spherocytosis-and-hereditary-elliptocytosis
- National Institute of Health. Hereditary Spherocytosis. Retrieved December 04, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK539797/
- National Organization for Rare Disorders. Hereditary Spherocytosis. Retrieved December 04, 2024 from https://rarediseases.org/rare-diseases/anemia-hereditary-spherocytic-hemolytic/
- Orphanet. Hereditary spherocytosis. Retrieved December 04, 2024 from https://www.orpha.net/en/disease/detail/822
