Loạn sản sọ-ngoại bì (cranioectodermal dysplasia) là dị tật bẩm sinh bắt nguồn từ những bất thường về kích thước, hình dạng cũng như tổ chức của các tế bào trong sọ và mô ngoại bì. Người bệnh thường có khuôn mặt dị biệt và mắc dị tật về xương.
Biểu hiện lâm sàng
Các biểu hiện của bệnh loạn sản sọ-ngoại bì bao gồm:
Dị tật vùng sọ-mặt
Người bệnh biểu hiện các đặc điểm dị biệt liên quan đến sọ và khuôn mặt như:
- Dính khớp sọ sớm
- Hộp sọ dài
- Trán dô
- Tai thấp, hướng ra sau
- Hai mắt cách xa nhau
- Mắt lác
- Nếp mí rẻ quạt
- Gò má đầy
- Môi dưới lồi ra ngoài
- Không đủ răng, răng dị dạng, mọc thưa
Ảnh: Dính khớp sọ vành một bênNguồn: Centers for Disease Control and Prevention
Ảnh: Các dạng nếp mí rẻ quạtNguồn: Ento Key
Dị tật xương
Bệnh ảnh hưởng đến quá trình phát triển xương, dẫn đến một số dị tật sau:
- Cánh tay, chân ngắn
- Ngón tay ngắn
- Dính hoặc thừa ngón tay
- Móng tay bất thường
- Ngực hẹp, lõm
- Lỏng khớp
- Loạn sản xương hông
- Dáng người thấp bé
- Chậm phát triển
Ảnh: Loạn sản xương hôngNguồn: Cleveland Clinic
Triệu chứng khác
Những biểu hiện khác của chứng loạn sản sọ-ngoại bì bao gồm:
- Tóc thưa và/hoặc mỏng
- Bệnh lí về thận, gan
- Da chảy xệ
- Nhiễm trùng phổi
- Thoát vị bẹn hai bên
- Thoái hóa võng mạc
- U nang bạch huyết
- Dị tật tim bẩm sinh
- Thiểu năng trí tuệ
Ảnh: Một số loại thoát vịNguồn: Cleveland Clinic
Độ phổ biến
Loạn sản sọ-ngoại bì là bệnh hiếm gặp nên tỉ lệ mắc bệnh chưa được xác định rõ. Hiện nay, hơn 70 trường hợp mắc bệnh được ghi nhận trên toàn thế giới.
Nguyên nhân
Loạn sản sọ-ngoại bì bắt nguồn từ đột biến một trong các gen IFT43, IFT52, IFT122, IFT140, WDR19, WDR35. Những gen này cung cấp hướng dẫn tạo ra các tiểu phần của protein IFT hiện diện trong lông mao—cấu trúc cực nhỏ nhô ra khỏi bề mặt tế bào. Lông mao tham gia vào nhiều đường tín hiệu giữa các tế bào, do đó chúng giữ vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển và chức năng của nhiều mô, đặc biệt là thận, gan, võng mạc. Ngoài ra, lông mao cũng đóng góp vào quá trình phát triển xương.
Protein IFT giữ vai trò vận chuyển các chất bên trong lông mao nhằm tập hợp và duy trì hoạt động của cấu trúc này. Đột biến xuất hiện tại một trong sáu gen trên đều ảnh hưởng đến số lượng hoặc chức năng của các tiểu phần IFT, do đó hoạt động của protein IFT bị thay đổi. Khi đó, số lượng lông mao giảm, dẫn đến xương, mô ngoại bì cùng các mô và cơ quan khác không thể phát triển bình thường. Một số bệnh nhân mắc chứng loạn sản sọ-ngoại bì không biểu hiện các đột biến trên nên người ta vẫn chưa thể xác định nguyên nhân gây bệnh.

Nguồn: LibreTexts Health
Chẩn đoán
Loạn sản sọ-ngoại bì được chẩn đoán dựa trên biểu hiện lâm sàng, kết quả chẩn đoán hình ảnh, các xét nghiệm bệnh lí và xét nghiệm di truyền.
Khám lâm sàng
Bác sĩ quan sát những đặc điểm bất thường và đánh giá triệu chứng liên quan đến thận, gan, răng, mắt.
Chẩn đoán hình ảnh
Bác sĩ tiến hành siêu âm nhằm kiểm tra các cấu trúc bất thường trong tim, thận và gan. Dị tật về hộp sọ, xương khớp được chẩn đoán dựa trên kết quả chụp X-quang và CT. Đối với bệnh nhân có biểu hiện chậm phát triển, bác sĩ có thể chỉ định chụp MRI.
Đánh giá chức năng cơ quan
Một số xét nghiệm đánh giá chức năng của các cơ quan bao gồm:
- Thận: phân tích nước tiểu, xét nghiệm điện giải
- Gan: xét nghiệm chức năng gan
- Mắt: đo điện cơ mắt
- Tim: điện tâm đồ

Ảnh: Kỹ thuật đo điện cơ mắt
Nguồn: A.D.A.M
Xét nghiệm di truyền
Mỗi đột biến gen có mức độ ảnh hưởng khác nhau. Bác sĩ có thể chỉ định xét nghiệm một gen cụ thể hoặc toàn bộ bộ gen của người bệnh nếu bệnh nhân không biểu hiện triệu chứng đặc trưng của một dạng đột biến nào.
Điều trị
Hiện nay, chưa có phương pháp điều trị hoàn toàn bệnh loạn sản sọ-ngoại bì. Bác sĩ lựa chọn phương pháp điều trị tùy vào mức độ nghiêm trọng của triệu chứng và tiên lượng bệnh. Các phương pháp chủ yếu nhằm giảm nhẹ triệu chứng và cải thiện chất lượng đời sống người bệnh.
Bệnh nhân có thể được chỉ định một số phương pháp điều trị sau:
- Phẫu thuật điều trị dị tật
- Sử dụng hormone tăng trưởng
- Ghép thận, gan
- Sử dụng thiết bị hỗ trợ thị lực
- Phẫu thuật nha khoa
- Vật lí trị liệu
Dạng di truyền
Loạn sản sọ-ngoại bì di truyền theo kiểu lặn trên nhiễm sắc thể thường. Do đó, bệnh chỉ biểu hiện khi mỗi tế bào có cả hai bản sao của ít nhất một trong các gen đột biến. Bệnh nhân mắc bệnh lặn trên nhiễm sắc thể thường sẽ có bố và mẹ mang một bản sao của gen đột biến, nhưng họ ít khi biểu hiện triệu chứng bệnh.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Phòng ngừa
Loạn sản sọ-ngoại bì di truyền đột biến gen lặn, cha mẹ mang đột biến dị hợp nên gần như không có biểu hiện bệnh, do đó rất khó phát hiện cho đến khi sinh con. Để chủ động phòng ngừa, cha mẹ nên làm xét nghiệm sàng lọc gen lặn để chủ động cho tương lai của con. Các cặp vợ chồng trước khi mang thai cần tư vấn và xét nghiệm di truyền nhằm đảm bảo sinh con khỏe mạnh. Người thuộc nhóm nguy cơ mắc bệnh cần khám sức khỏe và tầm soát bệnh định kì.
Tên gọi khác
- CED
- Sensenbrenner syndrome
References
- National Library of Medicine. Cranioectodermal dysplasia 1. Retrieved April 16, 2025 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/gtr/conditions/C0432235/
- Genetic and Rare Diseases Information Center. Cranioectodermal dysplasia. Retrieved April 16, 2025 from https://rarediseases.info.nih.gov/diseases/359/index
- OMIM. CRANIOECTODERMAL DYSPLASIA 1; CED1. Retrieved April 16, 2025 from https://omim.org/entry/218330
- MedlinePlus. Cranioectodermal dysplasia. Retrieved April 16, 2025 from https://medlineplus.gov/genetics/condition/cranioectodermal-dysplasia/
- Orphanet. Cranioectodermal dysplasia. Retrieved April 16, 2025 from https://www.orpha.net/en/disease/detail/1515
- GeneReviews. Cranioectodermal Dysplasia. Retrieved April 16, 2025 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK154653/
