Bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính bình thường về mặt di truyền tế bào (cytogenetically normal acute myeloid leukemia) là dạng ung thư xảy ra tại các mô tạo máu, bệnh thuộc nhóm bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính. Bệnh có thể khởi phát từ giai đoạn trẻ nhỏ đến cuối tuổi trưởng thành. Người bệnh có dấu hiệu giảm bạch cầu, hồng cầu và tiểu cầu dẫn đến nhiều triệu chứng khác nhau.
Biểu hiện lâm sàng
Tuỷ xương của người khoẻ mạnh chứa tế bào gốc tạo máu có thể biệt hoá thành nhiều tế bào.

Nguồn: Alila Medical Media/Shutterstock.com
Mỗi loại tế bào có chức năng như sau:
- Bạch cầu: chống nhiễm trùng
- Hồng cầu: vận chuyển oxy
- Tiểu cầu: tham gia quá trình đông máu
Đối với người mắc bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính bình thường về mặt di truyền, tủy xương của họ tạo ra số lượng lớn nguyên bào tủy. Nguyên bào tủy này phát triển thành tế bào ung thư thay vì tế bào bạch cầu như bình thường. Tế bào ung thư trong tủy xương nhiều quá mức sẽ ảnh hưởng đến quá trình sản xuất các tế bào khác như bạch cầu, hồng cầu và tiểu cầu chức năng. Người bệnh thiếu cả ba loại tế bào này, nên họ biểu hiện nhiều triệu chứng khác nhau.

Nguồn: joshya/Shutterstock.com
Các triệu chứng liên quan đến mỗi loại tế bào bao gồm:
- Giảm bạch cầu: dễ nhiễm trùng
- Giảm hồng cầu: mệt mỏi, suy nhược
- Giảm tiểu cầu: dễ bầm tím và chảy máu
Ngoài ra, người bệnh có thể bị sốt và sụt cân.

Ảnh: Hình thành cục máu đông
Nguồn: Medlineplus.gov
Độ phổ biến
Tỉ lệ mắc bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính vào khoảng 3,5/100.000 người mỗi năm. Trong đó, khoảng 40–50% trường hợp thuộc dạng bình thường về mặt di truyền.
Nguyên nhân
Người ta phân loại bệnh bạch cầu myeloid cấp tính là “bình thường về mặt di truyền” vì các
đột biến gây bệnh chỉ thay đổi một số đoạn nhỏ trên nhiễm sắc thể. Những thay đổi này không thể được phát hiện bằng cách phân tích tế bào học. Đối với bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính thông thường, đột biến gen gây bệnh thay đổi đoạn lớn trên nhiễm sắc thể, do đó chúng có thể được xác định bằng phân tích tế bào học.
Những đột biến phổ biến nhất xảy ra trên gen NPM1, FLT3, DNMT3A, CEBPA, IDH1 và IDH2 gây ra bệnh bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính bình thường về mặt di truyền.
Các gen này cung cấp hướng dẫn tạo ra protein tham gia những quá trình sau:
- FLT3: thúc đẩy quá trình tăng sinh và khả năng sống của tế bào
- CEBPA, DNMT3A: điều hoà biểu hiện gen, quá trình phân chia và biệt hoá tế bào
- NPM1: điều hoà quá trình tăng trưởng và phân chia tế bào
Những đột biến này làm gián đoạn hoạt động của tế bào gốc tạo máu, dẫn đến tế bào bạch cầu chưa trưởng thành được sản xuất dư thừa. Ngoài ra, đột biến gen IDH1 và IDH2 cung cấp hướng dẫn tạo ra những protein bị thay đổi chức năng, do đó quá trình biệt hoá bình thường của tế bào gốc tạo máu bị cản trở.

Nguồn: GeeksforGeeks
Phần lớn các trường hợp mắc bệnh do nhiều đột biến gen kết hợp. Ví dụ, bệnh nhân mang đột biến gen NMP1 thường đồng thời mang đột biến gen FLT3. Bên cạnh đó, một số yếu tố môi trường như thuốc lá và bức xạ có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh.
Chẩn đoán
Thông thường, bác sĩ chẩn đoán bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính bằng phương pháp phân tích di truyền tế bào, khi đó tế bào của người bệnh được quan sát và đánh giá những biến đổi trên nhiễm sắc thể. Tuy nhiên, bởi vì đột biến gen gây bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính bình thường về mặt di truyền chỉ làm thay đổi những đoạn nhỏ trên nhiễm sắc thể nên phương pháp này chưa thực sự hiệu quả.
Bác sĩ có thể sử dụng một số phương pháp chẩn đoán khác như:
Xét nghiệm công thức máu toàn phần và phết máu ngoại biên
Xét nghiệm công thức máu toàn phần giúp định lượng các loại tế bào máu. Phết máu ngoại biên giúp đánh giá số lượng và hình thái của tế bào máu.
Quan sát tế bào máu
Bác sĩ thu mẫu máu, tuỷ xương hoặc dịch não tuỷ của bệnh nhân và quan sát chúng dưới kính hiển vi nhằm đánh giá kích thước, hình dạng cũng như những đặc điểm khác của tế bào bạch cầu. Trong đó, mức độ biệt hoá của tế bào là yếu tố quan trọng. Người có lượng tế bào chưa trưởng thành chiếm từ 20% trở lên được chẩn đoán mắc bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính.

Ảnh: Dịch não tủy
Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Phân tích hóa học tế bào
Bác sĩ nhuộm tế bào với một số hoá chất nhằm phân biệt tế bào bạch cầu dòng tủy cấp tính với những tế bào khác. Sau đó, bác sĩ quan sát mẫu nhuộm dưới kính hiển vi nhằm chẩn đoán bệnh.
Đếm tế bào dòng chảy và nhuộm hoá mô miễn dịch
Bác sĩ xử lí tế bào với một số kháng thể đặc hiệu và quan sát dưới kính hiển vi hoặc sử dụng thiết bị đếm tế bào dòng chảy. Những kháng thể này giúp bác sĩ xác định các tế bào bạch cầu dòng tủy cấp tính.
Điều trị
Hiện nay, chưa có liệu pháp điều trị chuyên biệt cho bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính bình thường về mặt di truyền. Bác sĩ thường sử dụng những liệu pháp điều trị bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính cho người bệnh.
Hoá trị
Bác sĩ tiêm thuốc vào tĩnh mạch dưới da, dịch não tuỷ hoặc kê đơn thuốc uống cho bệnh nhân nhằm tiêu diệt hay kiểm soát các tế bào ung thư máu. Cytarabine và anthracycline là những thuốc hoá trị cho bệnh bạch cầu myeloid cấp tính phổ biến nhất.
Liệu pháp trúng đích
Phương pháp này sử dụng thuốc hoặc các chất đặc hiệu nhằm tấn công những tế bào ung thư cụ thể.
Một số loại thuốc điều trị trúng đích bao gồm:
- Thuốc ức chế FLT3: midostaurin, quizartinib, gilteritinib
- Thuốc ức chế IDH: ivosidenib, olutasidenib, rnasidenib
- Kháng thể đơn dòng: gemtuzumab ozogamicin
Cấy ghép tế bào gốc
Hoá trị có thể làm tổn thương tuỷ xương và ảnh hưởng các tế bào máu khoẻ mạnh. Vì vậy, bác sĩ thường chỉ định cấy ghép tế bào gốc sau khi bệnh nhân thực hiện hoá trị liều cao.
Hai phương pháp cấy ghép tế bào gốc bao gồm:
- Cấy ghép đồng loại: bệnh nhân nhận tế bào gốc từ người hiến tặng có đặc điểm mô học phù hợp
- Cấy ghép tự thân: bệnh nhân sử dụng tế bào gốc từ máu hoặc tuỷ xương của mình
Dạng di truyền
Phần lớn các trường hợp bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính bình thường về mặt di truyền không di truyền. Đột biến thường phát sinh trong tế bào của thai nhi sau khi trứng và tinh trùng kết hợp tạo thành hợp tử. Trong một số trường hợp, bệnh có thể di truyền theo kiểu trội trên nhiễm sắc thể thường. Một bản sao của gen CEBPA trong mỗi tế bào đủ để gây ra bệnh. Người bệnh thường được di truyền từ cha hoặc mẹ mắc bệnh.
Phòng ngừa
Bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính bình thường về mặt di truyền có thể di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường, nếu cha hoặc mẹ mắc bệnh, con sinh ra sẽ có 50% khả năng di truyền bệnh. Do đó, để bảo đảm 100% khả năng con không bị bệnh, cha mẹ có thể chọn phương pháp thụ tinh nhân tạo IVF và sàng lọc phôi PGS/PGD. Các cặp vợ chồng trước khi mang thai cần tư vấn và xét nghiệm di truyền nhằm đảm bảo sinh con khỏe mạnh. Người có tiền sử bệnh trong gia đình hoặc thường xuyên tiếp xúc với các yếu tố làm tăng nguy cơ mắc ung thư nên khám sức khỏe và tầm soát bệnh định kỳ.
Các tên gọi khác
- CN-AML
- NK-AML
- Normal karyotype acute myeloid leukemia
- Acute myelogenous leukemia with normal karyotype
References
- Genetic Testing Information. Acute myeloid leukemia. Retrieved June 17, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/gtr/conditions/C0023467/
- Catalog of Genes and Diseases from OMIM. LEUKEMIA, ACUTE MYELOID; AML. Retrieved June 17, 2024 from https://omim.org/entry/601626
- U.S National Library of Medicine. Cytogenetically normal acute myeloid leukemia. Retrieved June 17, 2024 from https://medlineplus.gov/genetics/condition/cytogenetically-normal-acute-myeloid-leukemia/
- Cleveland Clinic. Leukemia & Myeloid Disorders Program. Retrieved June 17, 2024 from https://my.clevelandclinic.org/departments/cancer/depts/leukemia
- MalaCards. Myeloid Leukemia. Retrieved June 17, 2024 from https://www.malacards.org/card/myeloid_leukemia
- National Institute of Health. Prognostic Prediction of Cytogenetically Normal Acute Myeloid Leukemia Based on a Gene Expression Model. Retrieved June 17, 2024 from https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/34123815/
- The New England Journal of Medicine. Genomic Classification and Prognosis in Acute Myeloid Leukemia. Retrieved June 17, 2024 from https://www.nejm.org/doi/full/10.1056/NEJMoa1516192
