Tăng sừng biểu bì (epidermolytic hyperkeratosis) là bệnh di truyền gây ra các mảng da đỏ và phồng rộp khi trẻ vừa chào đời.

Nguồn: Terese Winslow LLC
Biểu hiện lâm sàng
Trẻ sơ sinh tăng sừng biểu bì thường có triệu chứng đặc trưng bao gồm đỏ da và phồng rộp nghiêm trọng. Da của trẻ bệnh dễ tổn thương nên không thể bảo vệ tốt cơ thể. Do đó, trẻ có nguy cơ mất nước và nhiễm trùng máu. Nếu không được điều trị kịp thời, các biến chứng này sẽ gây tử vong.

Nguồn: Designua/Shutterstock.com
Nếu bệnh nhân sống sót qua giai đoạn sơ sinh, triệu chứng phồng rộp và đỏ da giảm dần theo thời gian. Tuy nhiên, bệnh nhân có dấu hiệu sừng hóa tại các vị trí bao gồm da tại các khớp, các vùng da tiếp xúc với nhau, da đầu hoặc cổ. Da sừng hóa thường sẫm màu hơn bình thường. Tại các vị trí này, vi khuẩn xâm nhập và phát triển gây ra mùi hôi đặc trưng ảnh hưởng đến cuộc sống của người bệnh.

Ảnh: Chứng tăng sừng
Nguồn: Arve Bettum/Shutterstock.com
Tăng sừng biểu bì gồm hai loại sau:
- Tăng sừng biểu bì loại PS: sừng hóa da tại lòng bàn tay, lòng bàn chân và các vùng khác của cơ thể
- Tăng sừng biểu bì loại NPS: sừng hóa da tại các vùng khác của cơ thể nhưng không xảy ra tại lòng bàn tay, lòng bàn chân
Tăng sừng biểu bì thuộc nhóm bệnh vảy cá. Người bệnh vảy cá có triệu chứng đặc trưng là da có vảy. Tuy nhiên, khác với các bệnh cùng nhóm, bệnh tăng sừng biểu bì khiến da dày lên nhưng không xuất hiện vảy.

Nguồn: Shutterstock
Độ phổ biến
Bệnh tăng sừng biểu bì ảnh hưởng đến khoảng 1/200.000–1/300.000 người trên toàn thế giới. Tỉ lệ mắc bệnh của nam giới và nữ giới như nhau.
Nguyên nhân
Đột biến gen KRT1 và KRT10 gây ra bệnh tăng sừng biểu bì. Những gen này cung cấp hướng dẫn tạo ra protein keratin 1 và keratin 10 trong tế bào sừng tại lớp biểu bì của da. Protein keratin có dạng sợi dai bám vào nhau để tạo thành sợi trung gian. Sợi trung gian cấu thành mạng lưới và cung cấp sức mạnh cũng như khả năng phục hồi cho lớp biểu bì.

Nguồn: Shutterstock.com
Đột biến gen KRT1 và KRT10 dẫn đến một số thay đổi trong protein keratin nên keratin không thể hình thành mạng lưới sợi trung gian chắc chắn, ổn định bên trong tế bào. Nếu không có mạng lưới này, tế bào sừng trở nên mỏng manh và dễ tổn thương dẫn đến biểu hiện phồng rộp da do ma sát hoặc chấn thương nhẹ. Cơ chế tác động của các đột biến này đến quá trình phát triển của tế bào biểu bì dẫn đến dấu hiệu sừng hóa chưa được xác định.
Đột biến gen KRT1 gây ra bệnh tăng sừng biểu bì loại PS vì protein keratin 1 hiện diện chủ yếu trong tế bào sừng của da lòng bàn tay, lòng bàn chân và các bộ phận khác của cơ thể. Trong khi đó, protein keratin 10 không xuất hiện trong da lòng bàn tay và lòng bàn chân nên đột biến gen KRT10 không tác động đến những vùng này.
Chẩn đoán
Tăng sừng biểu bì được chẩn đoán dựa trên các biểu hiện lâm sàng. Ngoài ra, phân tích đột biến gen bằng kĩ thuật sàng lọc bảng đa gen là phương pháp có độ chính xác cao và có thể áp dụng để chẩn đoán trước sinh.
Chẩn đoán trước sinh có thể thực hiện thông qua các phương pháp sau:
- Lấy mẫu nhung mao màng đệm
- Chọc ối
- Sinh thiết da thai nhi

Nguồn: Johns Hopkins Medicine
Tuy nhiên, các kĩ thuật này có độ nhạy thấp và không đồng nhất về mặt di truyền. Do đó, các kĩ thuật chẩn đoán tiềm năng khác bao gồm quang phổ Raman và chụp cắt lớp quang học đang được nghiên cứu nhằm nâng cao độ chính xác.
Điều trị
Hiện nay, chưa có phương pháp điều trị hoàn toàn bệnh tăng sừng biểu bì. Các liệu pháp chủ yếu làm giảm triệu chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống người bệnh. Mức độ hiệu quả của quá trình điều trị phụ thuộc vào tuổi tác và dấu hiệu lâm sàng của từng bệnh nhân. Người tăng sừng biểu bì thường có làn da mỏng và dễ tổn thương. Vì vậy, bệnh nhân nên mặc quần áo rộng rãi, thoải mái và đi giày vừa chân nhằm hạn chế cọ xát với da.
Trẻ sơ sinh dễ xảy ra hiện tượng mất nước, mất cân bằng điện giải và nhiễm trùng máu. Do đó, bác sĩ thường chỉ định theo dõi và chăm sóc trẻ trong môi trường đặc biệt nhằm kiểm soát các triệu chứng này. Đối với triệu chứng nhiễm trùng huyết, bệnh nhân được tiêm thuốc kháng sinh phổ rộng. Ngoài ra, các biện pháp hỗ trợ như thuốc làm mềm và miếng đệm bảo vệ sẽ giúp hạn chế tổn thương cũng như chữa lành các vùng da trầy xước.
Khi người bệnh xuất hiện dấu hiệu sừng hóa, bác sĩ thường kê thuốc làm mềm cục bộ và thuốc tiêu sừng có chứa glycerin, axit lactic, ure và axit α-hydroxy để cải thiện quá trình tăng sừng. Tuy nhiên, các loại thuốc này thường có tác dụng phụ bao gồm nóng rát và châm chích tại vùng da thoa thuốc. Ngoài ra, retinoid tại chỗ, N-acetylcysteine, liarozole và calcipotriol cũng làm giảm quá trình tăng sinh quá mức của biểu bì. Tuy nhiên, chúng có thể gây kích ứng da. Đối với các trường hợp nghiêm trọng, retinoid đường uống có thể cải thiện đáng kể triệu chứng sừng hóa và tần suất nhiễm trùng thứ phát nhưng người bệnh có nguy cơ mỏng da và tăng dấu hiệu phồng rộp. Do đó, người bệnh nên sử dụng thuốc với liều thấp rồi tăng dần theo chỉ định của bác sĩ. Bệnh nhân mang đột biến keratin 10 thường đáp ứng tốt hơn với retinoid so với bệnh nhân mang đột biến keratin 1.
Nếu vi khuẩn phát triển và gây nhiễm trùng da, người bệnh có thể sử dụng xà phòng kháng khuẩn, chlorhexidine và natri hypoclorit loãng để làm giảm mức độ phát triển của vi khuẩn.
Dạng di truyền
Bệnh tăng sừng biểu bì có thể di truyền theo nhiều kiểu khác nhau. Khoảng một nửa số bệnh nhân mắc bệnh do đột biến mới (denovo) xuất hiện trong quá trình hình thành tế bào sinh sản (trứng, tinh trùng) hoặc quá trình phát triển phôi sớm.
Ngoài ra, bệnh còn di truyền theo kiểu trội trên nhiễm sắc thể thường. Do đó, một bản sao của gen trong mỗi tế bào đủ để gây ra bệnh. Người bệnh thường được di truyền từ cha hoặc mẹ mắc bệnh.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Trong một số ít trường hợp, bệnh tăng sừng biểu bì do đột biến gen KRT10 gây ra di truyền theo kiểu lặn trên nhiễm sắc thể thường, nghĩa là cả hai bản sao của gen trong mỗi tế bào đều có đột biến. Cha mẹ của một cá nhân mắc bệnh lặn trên nhiễm sắc thể thường đều mang một bản sao của gen đột biến, nhưng họ thường không biểu hiện dấu hiệu và triệu chứng của bệnh.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Phòng ngừa
Đối với trường hợp bệnh tăng sừng biểu bì di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường, nếu cha hoặc mẹ mắc bệnh, con sinh ra sẽ có 50% khả năng di truyền bệnh. Do đó, để bảo đảm 100% khả năng con không bị bệnh, cha mẹ có thể chọn phương pháp thụ tinh nhân tạo IVF và sàng lọc phôi PGS/PGD. Các thành viên trong gia đình nên khám sức khỏe và tầm soát bệnh định kỳ nếu có thành viên mắc bệnh. Các cặp vợ chồng trước khi mang thai cần tư vấn và xét nghiệm di truyền nhằm đảm bảo sinh con khỏe mạnh.
Khi bệnh di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường, cha mẹ mang đột biến dị hợp nên gần như không có biểu hiện bệnh, do đó rất khó phát hiện cho đến khi sinh con. Cha mẹ nên làm xét nghiệm sàng lọc gen lặn để chủ động cho tương lai của con. Các cặp vợ chồng trước khi mang thai cần tư vấn và xét nghiệm di truyền nhằm đảm bảo sinh con khỏe mạnh. Người thuộc nhóm nguy cơ mắc bệnh cần khám sức khỏe và tầm soát bệnh định kì.
Các tên gọi khác
- BCIE
- BIE
- Bullous congenital ichthyosiform erythroderma
- Bullous erythroderma ichthyosiforme
- Bullous erythroderma ichthyosiformis congenita of Brocq
- Bullous ichthyosiform erythroderma
- EHK
- Epidermolytic ichthyosis
- Hyperkeratosis, epidermolytic
References
- Genetic Testing Information. Epidermolytic ichthyosis. Retrieved September 23, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/gtr/conditions/C0079153/
- Genetic and Rare Diseases Information Center. Autosomal dominant epidermolytic ichthyosis. Retrieved September 23, 2024 from https://rarediseases.info.nih.gov/diseases/1039/index
- Catalog of Genes and Diseases from OMIM. EPIDERMOLYTIC HYPERKERATOSIS 1; EHK1. Retrieved September 23, 2024 from https://omim.org/entry/113800
- U.S. National Library of Medicine. Epidermolytic hyperkeratosis. Retrieved September 23, 2024 from https://medlineplus.gov/genetics/condition/epidermolytic-hyperkeratosis/
- DermNet NZ. Epidermolytic ichthyosis. Retrieved September 23, 2024 from https://dermnetnz.org/topics/epidermolytic-ichthyosis
- MalaCards. Epidermolytic Hyperkeratosis (EI). Retrieved September 23, 2024 from https://www.malacards.org/card/epidermolytic_hyperkeratosis
- National Organization for Rare Disorders. Epidermolytic Ichthyosis. Retrieved September 23, 2024 from https://rarediseases.org/rare-diseases/epidermolytic-ichthyosis/
- Orphanet. Autosomal dominant epidermolytic ichthyosis. Retrieved September 23, 2024 from https://www.orpha.net/en/disease/detail/312
- Foundation for Ichthyosis & Related Skin Types. Epidermolytic Ichthyosis: A Patient's Perspective. Retrieved September 23, 2024 from https://www.firstskinfoundation.org/types-of-ichthyosis/epidermolytic-ichthyosis
