Thiếu máu rối loạn sinh hồng cầu và giảm tiểu cầu (dyserythropoietic anemia and thrombocytopenia) là bệnh di truyền ảnh hưởng đến tế bào máu chủ yếu trên nam giới.
Biểu hiện lâm sàng
Thiếu máu rối loạn sinh hồng cầu và giảm tiểu cầu có biểu hiện đặc trưng là thiếu máu do thiếu hồng cầu. Quá trình hình thành hồng cầu trong cơ thể người bệnh xảy ra không bình thường. Cụ thể, các tế bào hồng cầu chưa trưởng thành có hình dạng bất thường và không thể phát triển thành các tế bào trưởng thành nên cơ thể thiếu hồng cầu khỏe mạnh. Ngoài ra, bệnh nhân còn xuất hiện triệu chứng giảm tiểu cầu. Tiểu cầu là các tế bào hỗ trợ quá trình đông máu. Do đó, giảm tiểu cầu khiến người bệnh dễ bầm tím và chảy máu bất thường. Người bệnh có thể biểu hiện cả hai triệu chứng trên hoặc chỉ một trong hai.

Nguồn: Medlineplus.gov
Trong các trường hợp nghiêm trọng, người bệnh có triệu chứng phù thai—chất lỏng thừa tích tụ trong cơ thể thai nhi. Đối với một số bệnh nhân, dấu hiệu của bệnh khởi phát từ giai đoạn trẻ nhỏ.
Người bệnh thường có các biểu hiện bao gồm:
- Chảy máu kéo dài
- Bầm tím sau chấn thương nhẹ hoặc không chấn thương
- Da nhợt nhạt
- Cơ thể yếu
- Mệt mỏi
Thiếu máu nghiêm trọng khiến bệnh nhân cần truyền máu thường xuyền để bổ sung nguồn cung cấp hồng cầu. Tuy nhiên, truyền máu liên tục trong nhiều năm có thể gây ra hiện tượng thừa sắt trong máu. Ngoài ra, người bệnh còn có nguy cơ giảm bạch cầu trung tính dẫn đến nhiễm trùng tái phát. Mặt khác, bệnh có thể gây ra triệu chứng lách to. Mức độ nghiêm trọng của các biểu hiện này khác nhau đối với mỗi cá nhân.

Nguồn: extender_01/Shutterstock.com
Trong một số ít trường hợp, người bệnh biểu hiện thêm các bệnh bao gồm beta thalassemia hoặc rối loạn chuyển hóa hồng cầu bẩm sinh. Bệnh beta thalassemia làm giảm sản xuất hemoglobin—protein chứa sắt trong tế bào hồng cầu. Giảm hemoglobin có thể dẫn đến hiện tượng thiếu oxi trong tế bào và mô trên khắp cơ thể. Trong khi đó, rối loạn chuyển hóa hồng cầu bẩm sinh làm yếu quá trình sản xuất hemoglobin. Bệnh nhân có biểu hiện nhạy cảm với ánh sáng mặt trời. Vùng da tiếp xúc với ánh nắng sẽ trở nên mỏng và phồng rộp.

Nguồn: Designua/Shutterstock.com
Độ phổ biến
Thiếu máu rối loạn sinh hồng cầu và giảm tiểu cầu rất hiếm gặp nên tỉ lệ mắc bệnh chưa được xác định. Thỉnh thoảng, bệnh bị chẩn đoán nhầm thành các bệnh về máu khác phổ biến hơn. Do đó, quá trình xác định số lượng bệnh nhân trở nên khó khăn.
Nguyên nhân
Đột biến gen GATA1 gây ra thiếu máu rối loạn sinh hồng cầu và giảm tiểu cầu. Gen GATA1 cung cấp hướng dẫn tạo ra protein liên kết với một số vùng của ADN nhằm kiểm soát hoạt động của các gen tương ứng. Trên cơ sở này, protein GATA1 được gọi là yếu tố phiên mã. Protein GATA1 tham gia vào quá trình biệt hóa của tế bào máu chưa trưởng thành. Để hoạt động bình thường, tế bào chưa trưởng thành phải biệt hóa thành các loại tế bào máu trưởng thành. Protein GATA1 điều chỉnh quá trình phát triển, tăng sinh của tế bào hồng cầu chưa trưởng thành và tế bào tiền thân tiểu cầu. Ngoài ra, protein GATA1 cũng hỗ trợ quá trình phân hóa của các loại tế bào này.
Đột biến gen GATA1 ngăn cản protein GATA1 liên kết với ADN hoặc tương tác với protein khác. Từ đó, số lượng đại thực bào tăng và số lượng tiểu cầu trưởng thành giảm dẫn đến triệu chứng chảy máu bất thường. Protein GATA1 hoạt động bất thường nên tế bào hồng cầu chưa trưởng thành đi vào quá trình chết theo chu trình. Do đó, số lượng tế bào hồng cầu trưởng thành đã biệt hóa giảm khiến bệnh nhân thiếu máu. Mức độ nghiêm trọng của bệnh có thể xác định thông qua loại đột biến gen GATA1.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Khi hai triệu chứng thiếu máu rối loạn sinh hồng cầu và giảm tiểu cầu xảy ra riêng lẻ, mỗi triệu chứng có thể là kết quả của nhiều yếu tố khác nhau. Hai triệu chứng này xuất hiện cùng nhau là đặc trưng của đột biến gen GATA1.
Chẩn đoán
Thiếu máu rối loạn sinh hồng cầu và giảm tiểu cầu được chẩn đoán thông qua bệnh sử gia đình và các triệu chứng đặc trưng. Ngoài ra, bệnh nhân cũng cần thực hiện một số xét nghiệm nhằm xác định số lượng các loại tế bào máu. Phương pháp sinh thiết tủy xương có thể phát hiện các triệu chứng liên quan đến hồng cầu, tiểu cầu và đại thực bào. Trong một số trường hợp cần thiết, bệnh nhân được chỉ định làm xét nghiệm di truyền nhằm xác nhận chẩn đoán.

Nguồn: Terese Winslow
Điều trị
Người bệnh thiếu máu rối loạn sinh hồng cầu và giảm tiểu cầu có triệu chứng nhẹ không cần điều trị. Đối với bệnh nhân có biểu hiện liên quan đến giảm tiểu cầu, bác sĩ thường điều trị bằng phương pháp truyền tiểu cầu. Người bệnh có thể điều trị triệu chứng chảy máu mức độ nhẹ đến trung bình bằng desmopressin. Khi bệnh tiến triển nghiêm trọng dẫn đến phù thai, bác sĩ sẽ tiến hành truyền máu trong tử cung và truyền máu sau khi sinh. Ngoài ra, bệnh nhân thường xuyên truyền máu cần theo dõi chặt chẽ nồng độ sắt trong máu. Trong một số ít trường hợp, liệu pháp ghép tủy xương được cân nhắc khi tính mạng bệnh nhân bị đe dọa.
Dạng di truyền
Thiếu máu rối loạn sinh hồng cầu và giảm tiểu cầu do đột biến gen GATA1 di truyền theo kiểu lặn liên kết với nhiễm sắc thể giới tính X. Nam giới chỉ có một nhiễm sắc thể X, do đó một bản sao của gen GATA1 đột biến trong mỗi tế bào đủ gây ra triệu chứng nghiêm trọng. Người cha bị bệnh không thể truyền gen đột biến này cho con trai. Đối với phụ nữ có hai nhiễm sắc thể X, đột biến tại một bản sao của gen GATA1 thường chỉ gây ra các triệu chứng nhẹ.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Phòng ngừa
Thiếu máu rối loạn sinh hồng cầu và giảm tiểu cầu có cơ chế di truyền liên kết X phức tạp nên khó phát hiện đối với những người phụ nữ mang gen bệnh cho đến khi sinh con. Người mẹ nên làm xét nghiệm sàng lọc gen lặn để chủ động cho tương lai của con. Các cặp vợ chồng trước khi mang thai cần tư vấn và xét nghiệm di truyền nhằm đảm bảo sinh con khỏe mạnh. Người thuộc nhóm nguy cơ mắc bệnh cần khám sức khỏe và tầm soát bệnh định kì.
Các tên gọi khác
- Dyserythropoietic anemia with thrombocytopenia
- GATA-1-related thrombocytopenia with dyserythropoiesis
- GATA1-related cytopenia
- GATA1-related X-linked cytopenia
- X-linked macrothrombocytopenia
References
- Genetic Testing Information. Thrombocytopenia, X-linked, with or without dyserythropoietic anemia. Retrieved November 28, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/gtr/conditions/C3550789/
- Catalog of Genes and Diseases from OMIM. THROMBOCYTOPENIA, X-LINKED, WITH OR WITHOUT DYSERYTHROPOIETIC ANEMIA; XLTDA. Retrieved November 28, 2024 from https://omim.org/entry/300367
- U.S. National Library of Medicine. Dyserythropoietic anemia and thrombocytopenia. Retrieved November 28, 2024 from https://medlineplus.gov/genetics/condition/dyserythropoietic-anemia-and-thrombocytopenia/
- MalaCards. Thrombocytopenia with Congenital Dyserythropoietic Anemia (XDAT). Retrieved November 28, 2024 from https://www.malacards.org/card/thrombocytopenia_with_congenital_dyserythropoietic_anemia
- National Institute of Health. Thrombocytopenia with congenital dyserythropoietic anemia. Retrieved November 28, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/medgen/928177
- National Organization for Rare Disorders. thrombocytopenia with congenital dyserythropoietic anemia. Retrieved November 28, 2024 from https://rarediseases.org/mondo-disease/thrombocytopenia-with-congenital-dyserythropoietic-anemia/
- Orphanet. Thrombocytopenia with congenital dyserythropoietic anemia. Retrieved November 28, 2024 from https://www.orpha.net/en/disease/detail/67044
