Bệnh dự trữ glycogen loại IX (glycogen storage disease type IX) xảy ra khi cơ thể không có khả năng phân giải glycogen—một loại đường phức, do đó chức năng bình thường của mô bị ảnh hưởng. Các dạng khác nhau của bệnh dự trữ glycogen có thể tác động đến quá trình phân giải glycogen trong tế bào gan, tế bào cơ hoặc cả hai loại tế bào này.
Biểu hiện lâm sàng
Dạng tác động đến tế bào gan
Bệnh dự trữ glycogen loại IX chủ yếu ảnh hưởng đến gan, người bệnh thường khởi phát dấu hiệu và triệu chứng trong giai đoạn trẻ nhỏ.
Một số biểu hiện phổ biến bao gồm:
- Gan to
- Chậm phát triển
- Tầm vóc thấp
- Yếu cơ nhẹ
- Chậm phát triển vận động như ngồi, đứng hay đi lại
Khi người bệnh không ăn trong khoảng thời gian dài, họ có thể bị hạ đường huyết hoặc tăng ceton trong máu, dẫn đến nhiễm toan ceton. Khi cơ thể không có đủ glucose dự trữ để sử dụng làm năng lượng, chúng sẽ phân hủy chất béo lấy năng lượng và sinh ra hợp chất ceton. Bên cạnh đó, một số trẻ có biểu hiện dậy thì muộn.
Đối với dạng bệnh dự trữ glycogen loại IX ảnh hưởng đến gan, triệu chứng thường cải thiện theo thời gian. Đa phần bệnh nhân đều đạt mốc phát triển và chiều cao trung bình khi trưởng thành. Tuy nhiên, một số trường hợp người bệnh bị xơ hóa gan và tiến triển thành xơ gan không hồi phục.

Nguồn: Cleveland Clinic

Ảnh: Gan phình to
Nguồn: Mount Sinai
Dạng tác động đến tế bào cơ
Bệnh dự trữ glycogen loại IX có thể ảnh hưởng đến mô cơ nhưng không phổ biến, vì vậy, dạng này chưa được nghiên cứu đầy đủ. Bệnh có thể khởi phát bất kì thời điểm nào trong đời, từ giai đoạn trẻ nhỏ đến tuổi trưởng thành. Phần lớn bệnh nhân đều có dấu hiệu yếu cơ tiến triển theo thời gian.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Người bệnh thường xuất hiện các triệu chứng như:
- Mệt mỏi
- Đau cơ và chuột rút
- Không dung nạp vận động
Bệnh dự trữ glycogen loại IX có thể gây ra myoglobin niệu—bệnh lí xảy ra khi mô cơ bị phá hủy. Cơ thể người bệnh giải phóng protein myoglobin vào nước tiểu, do đó, nước tiểu có thể chuyển sang màu đỏ hoặc nâu.
Dạng tác động đến cả hai loại tế bào
Một số bệnh nhân mắc bệnh dự trữ glycogen loại IX gặp vấn đề với quá trình phân giải của tế bào gan và cơ. Vì vậy, biểu hiện lâm sàng của họ kết hợp hai dạng đã mô tả phía trên, tuy nhiên, triệu chứng liên quan đến tế bào cơ thường nhẹ hơn.
Độ phổ biến
Ước tính tỉ lệ mắc bệnh dự trữ glycogen loại IX vào khoảng 1/100.000 người. Các dạng bệnh ảnh hưởng đến tế bào cơ hoặc cả hai loại tế bào cơ và gan ít phổ biến hơn. Vì vậy, hiện nay chưa có thống kê cụ thể về tỉ lệ mắc bệnh thuộc những dạng này.
Nguyên nhân
Đột biến nhiều gen gồm PHKA1, PHKA2, PHKB hoặc PHKG2 gây ra bệnh dự trữ glycogen loại IX. Các gen này cung cấp hướng dẫn tạo ra tiểu đơn vị của enzyme phosphorylase b kinase. Enzyme này được tạo thành từ 16 tiểu đơn vị, gồm bốn loại alpha, beta, gamma và delta. Enzyme phosphorylase b kinase gồm hai dạng chính, một dạng trong gan có chức năng điều hòa quá trình phân giải glycogen trong gan và cung cấp glucose cho cơ thể khi mức đường huyết thấp. Dạng còn lại trong cơ có chức năng phân giải glycogen dự trữ trong cơ để cung cấp năng lượng cho hoạt động cơ bắp.
Cụ thể, các gen cung cấp hướng dẫn tạo ra tiểu đơn vị protein tương ứng như sau:
- Gen PHKA1: tiểu đơn vị alpha của enzyme trong cơ
- Gen PHKA2: tiểu đơn vị alpha của enzyme trong gan
- Gen PHKB: tiểu đơn vị beta hiện diện trong cơ và gan
- Gen PHKG2: tiểu đơn vị gamma của enzyme trong gan
Phosphorylase b kinase cung cấp năng lượng cho tế bào, bao gồm tế bào gan và cơ. Nguồn năng lượng chính của tế bào là glucose—một loại đường đơn. Glucose được dự trữ trong tế bào cơ và gan dưới dạng glycogen. Khi cơ thể cần glucose, ví dụ khi duy trì mức glucose trong máu bình thường giữa các bữa ăn hoặc cung cấp năng lượng khi tập thể dục, glycogen sẽ được phân giải thành glucose. Phosphorylase b kinase hoạt hóa enzyme thực hiện quá trình phân hủy glycogen.

Nguồn: U.S National Library of Medicine
Người ta chưa rõ đột biến gen tác động đến các tiểu đơn vị protein tương ứng như thế nào, tuy nhiên, họ nhân thấy những đột biến này làm giảm khả năng hoạt động của phosphorylase b kinase trong tế bào gan, tế bào cơ và tế bào máu. Enzyme giảm hoạt động dẫn đến quá trình phân hủy glycogen không hiệu quả. Vì vậy, glycogen tích tụ đến mức gây hại tế bào; đồng thời, cơ thể không có sẵn glucose dự trữ để tạo ra năng lượng.

Nguồn: Semantic Scholar
Glycogen tích tụ trong gan nên gan trở nên to và không thể phân giải glycogen thành glucose, do đó chúng góp phần gây ra tình trạng hạ đường huyết và nhiễm toan ceton. Trong tế bào cơ, giảm sản xuất năng lượng dẫn đến yếu, đau cơ và chuột rút.
Chẩn đoán
Bệnh dự trữ glycogen loại IX được chẩn đoán dựa trên biểu hiện lâm sàng, bệnh sử gia đình kết hợp với xét nghiệm chuyên biệt.
Các dấu hiệu chẩn đoán ban đầu bao gồm:
- Gan to
- Tăng trưởng chậm
- Men gan và mỡ máu cao
Bác sĩ sẽ tiến hành xét nghiệm enzyme nhằm đo hoạt động của phosphorylase b kinase trong hồng cầu hoặc mô gan. Ngoài ra, người bệnh có thể thực hiện xét nghiệm di truyền nhằm phát hiện đột biến gen liên quan đến bệnh. Một số trường hợp, bệnh nhân cần thực hiện sinh thiết gan hoặc cơ để đánh giá tình trạng bệnh chính xác hơn.

Nguồn: Cleveland Clinic
Điều trị
Hiện nay, chưa có phương pháp điều trị hoàn toàn bệnh dự trữ glycogen loại IX. Các liệu pháp chủ yếu nhằm giảm triệu chứng và cải thiện chất lượng đời sống người bệnh.
Hạ đường huyết
Ngoài ra, chế độ dinh dưỡng rất quan trọng đối với quá trình điều trị, do đó người bệnh cần:
- Hạn chế tiêu thụ đường đơn
- Tăng cường protein và carbohydrate phức trong khẩu phần ăn
- Tránh nhịn đói kéo dài
- Ăn nhiều bữa nhỏ trong ngày
- Có thể bổ sung bột ngô sống hoặc ăn nhẹ trước khi ngủ nhằm duy trì đường huyết ổn định
Nếu bệnh nhân bị hạ đường huyết hoặc nhiễm toan ceton, họ có thể sử dụng Polycose hoặc nước ép trái cây nhằm đưa đường huyết về trạng thái ổn định. Đối với trường hợp nghiêm trọng, người bệnh cần được truyền glucose qua đường tĩnh mạch.
Bên cạnh đó, người bệnh cần thường xuyên theo dõi nồng độ glucose, ceton trong máu và chức năng gan. Ngoài ra, người bệnh nên kiểm tra enzyme gan (AST, ALT, phosphatase kiềm, GGT) và siêu âm/MRI bụng định kì 6–12 tháng.
Bệnh lí về cơ
Đối với bệnh nhân có biểu hiện yếu cơ, họ có thể tập vật lí trị liệu để cải thiện sức mạnh cơ bắp. Bên cạnh đó, người bệnh cần lưu ý tránh tập luyện quá sức và không sử dụng những loại thuốc có thể gây tổn thương cơ như statin.
Ngoài ra, bác sĩ cần thực hiện các biện pháp phòng ngừa đặc biệt nếu bệnh nhân cần phẫu thuật gây mê toàn thân nhằm tránh tăng thân nhiệt ác tính. Tăng thân nhiệt ác tính là bệnh di truyền hiếm gặp nhưng rất nguy hiểm, bệnh có thể khởi phát khi người bệnh tiếp xúc với một số loại thuốc gây mê hoặc thuốc giãn cơ.
Dạng di truyền
Bệnh dự trữ glycogen loại IX có nhiều kiểu di truyền khác nhau phụ thuộc vào nguyên nhân gây bệnh. Trường hợp do đột biến gen PHKA1 hoặc PHKA2 gây ra, bệnh di truyền theo kiểu lặn liên kết với nhiễm sắc thể giới tính X. Nam giới chỉ có một nhiễm sắc thể X, do đó một bản sao của gen ATRX đột biến trong mỗi tế bào đủ để gây ra triệu chứng bệnh nghiêm trọng. Người cha bị bệnh không thể truyền gen đột biến này cho con trai. Đối với phụ nữ có hai nhiễm sắc thể X, đột biến tại một bản sao của gen ATRX thường gây ra các triệu chứng nhẹ.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Đối với người bệnh mang đột biến PHKB hoặc PHKG2, bệnh di truyền theo kiểu lặn trên nhiễm sắc thể thường. Do đó, bệnh chỉ biểu hiện khi có cả hai bản sao của gen đột biến trong mỗi tế bào. Bệnh nhân mắc bệnh lặn trên nhiễm sắc thể thường sẽ có bố và mẹ mang một bản sao của gen đột biến, nhưng họ ít khi biểu hiện triệu chứng bệnh.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Phòng ngừa
Bệnh dự trữ glycogen loại IX có cơ chế di truyền liên-kết-X phức tạp nên khó phát hiện trên những người phụ nữ mang gen bệnh cho đến khi họ sinh con. Ngoài ra, bệnh còn a href="/di-truyen-gen-lan/">di truyền lặn đột biến nhiều gen, cha mẹ mang đột biến dị hợp nên gần như không có biểu hiện bệnh, do đó rất khó phát hiện cho đến khi sinh con. Vì vậy, cha mẹ nên làm xét nghiệm sàng lọc gen lặn để chủ động cho tương lai của con. Các cặp vợ chồng trước khi mang thai cần tư vấn và xét nghiệm di truyền nhằm đảm bảo sinh con khỏe mạnh. Người thuộc nhóm nguy cơ mắc bệnh cần khám sức khỏe và tầm soát bệnh định kì.
Các tên gọi khác
- GSD IX
- GSDIX
- PhK deficiency
- Phosphorylase b kinase deficiency
- Phosphorylase kinase deficiency
References
- Genetic Testing Information. Glycogen storage disease IXa1. Retrieved September 23, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/gtr/conditions/C3694531/
- Catalog of Genes and Diseases from OMIM. GLYCOGEN STORAGE DISEASE IXa1; GSD9A1. Retrieved September 23, 2024 from https://omim.org/entry/306000
- U.S National Library of Medicine. Glycogen storage disease type IX. Retrieved September 23, 2024 from https://medlineplus.gov/genetics/condition/glycogen-storage-disease-type-ix/
- Cleveland Clinic. Glycogen Storage Disease (GSD). Retrieved September 23, 2024 from https://my.clevelandclinic.org/health/diseases/15553-glycogen-storage-disease-gsd
- MalaCards. Glycogen Storage Disease Ix. Retrieved September 23, 2024 from https://www.malacards.org/card/glycogen_storage_disease_ix
- National Institute of Health. Glycogen storage disease type IX and growth hormone deficiency presenting as severe ketotic hypoglycemia. Retrieved September 23, 2024 from https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/28085675/
- National Organization for Rare Disorders. Glycogen Storage Disease Type IX. Retrieved September 23, 2024 from https://rarediseases.org/rare-diseases/glycogen-storage-disease-type-ix/
- Orphanet. Glycogen storage disease due to phosphorylase kinase deficiency. Retrieved September 23, 2024 from https://www.orpha.net/en/disease/detail/370
