Dày sừng da và tóc xoăn (keratoderma with woolly hair) là một nhóm các bệnh lý liên quan đến da và tóc. Bệnh đồng thời làm tăng nguy cơ mắc các bệnh về tim đe dọa đến tính mạng trong một số trường hợp.
Biểu hiện lâm sàng
Những người mắc dày sừng da và tóc xoăn có tóc thô, khô, và xoăn chặt bất thường. Một số trường hợp có tóc thưa thớt. Triệu chứng tóc xoăn xuất hiện ngay từ khi mới sinh. Khi lớn lên, người bệnh cũng có thể bị dày sừng da bàn tay, bàn chân, từ đó da lòng bàn tay và bàn chân dày, có vảy và chai.

Nguồn: Hair Transplant Clinic
Những người mắc dày sừng da và tóc xoăn có thể tiến triển bệnh cơ tim—một bệnh về tim có khả năng gây tử vong. Các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh cơ tim có thể bắt đầu từ tuổi thiếu niên hoặc muộn hơn. Biến chứng của bệnh bao gồm nhịp tim bất thường, suy tim và đột tử.
Dày sừng da và tóc xoăn là nhóm bệnh lí có biểu hiện dấu hiệu và triệu chứng tương đồng. Gần đây, người ta đã đề xuất phân loại nhóm bệnh này thành bốn loại dựa trên nguyên nhân di truyền cơ bản. Loại I được gọi là bệnh Naxos gây ra dày sừng da bàn tay, bàn chân, tóc xoăn và một dạng bệnh cơ tim được gọi là loạn sản thất phải (arrhythmogenic right ventricular cardiomyopathy). Bệnh loại II hay hội chứng Carvajal dẫn đến các bất thường về tóc và da tương tự như loại I. Tuy nhiên, loại II phát triển một dạng bệnh cơ tim khác được gọi là bệnh cơ tim giãn thất trái (dilated left ventricular cardiomyopathy). Dày sừng da và tóc xoăn loại III có biểu hiện tương tự loại I, bao gồm cả loạn sản thất phải, nhưng các triệu chứng thường nhẹ hơn. Bệnh loại IV gây ra dày sừng da bàn tay, bàn chân, tóc xoăn và thưa, kèm theo các bất thường về móng tay, móng chân, nhưng không gây ra bệnh cơ tim.
Độ phổ biến
Dày sừng da và tóc xoăn là bệnh di truyền hiếm gặp. Hiện nay, người ta vẫn chưa xác định chính xác tỉ lệ mắc bệnh.
Bệnh loại I (bệnh Naxos) được ghi nhận lần đầu tiên trong các gia đình sống trên đảo Naxos, Hy Lạp. Sau đó, nhiều gia đình mắc bệnh được phát hiện tại các vùng khác thuộc Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ và Trung Đông. Dày sừng da và tóc xoăn loại I có tỉ lệ mắc bệnh khoảng 1/1.000 người trên các đảo thuộc Hy Lạp.
Dày sừng da và tóc xoăn loại II (hội chứng Carvajal), loại III và loại IV được ghi nhận trong một số ít gia đình trên toàn thế giới.
Nguyên nhân
Đột biến trên các gen JUP, DSP, DSC2 và KANK2 lần lượt gây ra các loại dày sừng da và tóc xoăn từ I đến IV. Các gen JUP, DSP và DSC2 cung cấp hướng dẫn tạo ra nhiều thành phần của cấu trúc tế bào chuyên biệt được gọi là desmosome. Desmosome nằm trong màng bao quanh một số tế bào bao gồm tế bào da và cơ tim. Desmosome gắn kết các tế bào với nhau nhằm cung cấp sức mạnh và sự ổn định cho các mô. Ngoài ra, desmosomes cũng nắm vai trò thiết yếu trong quá trình truyền tín hiệu giữa các tế bào.
Đột biến gen JUP, DSP hoặc DSC2 thay đổi cấu trúc và gây suy yếu chức năng của desmosome. Thiếu desmosome hoặc desmosome bất thường ngăn các tế bào gắn kết với nhau một cách hiệu quả nên tóc, da và cơ tim trở nên dễ tổn thương. Theo thời gian, khi tiếp xúc với lực cơ học (ma sát trên bề mặt da hoặc sự co bóp và thư giãn liên tục của cơ tim), các mô này bị tổn thương và không còn khả năng hoạt động bình thường. Từ đó, các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh khởi phát. Người ta cũng cho rằng tín hiệu tế bào bất thường có thể góp phần gây ra bệnh cơ tim.
Gen KANK2 không cung cấp hướng dẫn tạo ra protein cấu thành desmosome. Thay vào đó, gen này tham gia điều chỉnh các protein được gọi là đồng hoạt hóa thụ thể steroid (steroid receptor coactivator - SRC). Protein này kích hoạt một số gen và nắm vai trò trọng yếu trong các mô trên khắp cơ thể, bao gồm cả da. Đột biến gen KANK2 phá vỡ sự điều chỉnh của SRC, do đó nhiều gen hoạt động bất thường. Tuy nhiên, cơ chế những đột biến này gây ra các bất thường về da và tóc trong bệnh dày sừng da và tóc xoăn loại IV vẫn chưa rõ ràng.
Chẩn đoán
Dày sừng da và tóc xoăn thường được chẩn đoán dựa trên biểu hiện lâm sàng trên da và tóc. Ngoài ra, bệnh nhân có thể được chỉ định thêm một số phương pháp chẩn đoán hình ảnh và xét nghiệm chuyên sâu khác. Cụ thể, bệnh nhân nghi ngờ mắc bệnh loại I sẽ được làm thêm các xét nghiệm để chẩn đoán loạn sản thất phải. Bệnh nhân nghi ngờ mắc bệnh loại II có thể được chỉ định chụp X-quang và siêu âm tim 2 chiều nhằm phát hiện bệnh cơ tim giãn thất trái. Bệnh nhân nghi ngờ mắc bệnh loại IV có thể được chỉ định sinh thiết da, chụp X-quang ngực, đo điện tim đồ và siêu âm tim 2 chiều.
Điều trị
Đối với dày sừng da và tóc xoăn loại I và loại II, các phương pháp điều trị bao gồm cấy máy khử rung tim tự động để ngăn ngừa đột tử, thuốc chống loạn nhịp nhằm ngăn ngừa tái phát cơn nhịp nhanh thất và điều trị suy tim sung huyết. Ngoài ra, ghép tim có thể được xem xét cho những trường hợp bệnh giai đoạn cuối. Mặt khác, bệnh nhân mắc dày sừng da và tóc xoăn loại II có thể sử dụng các chất làm mềm da, thuốc tiêu sừng tại chỗ như tazarotene 0,05% và tretinoin 0,1% nhằm điều trị dày sừng lòng bàn tay.
Đối với bệnh loại IV, bệnh nhân có thể được điều trị bằng thuốc tiêu sừng tại chỗ kết hợp với acitretin đường uống 25 mg mỗi ngày một lần.
Dạng di truyền
Phần lớn các trường hợp dày sừng da và tóc xoăn di truyền theo kiểu lặn trên nhiễm sắc thể thường. Do đó, bệnh chỉ biểu hiện khi có cả hai bản sao của gen đột biến trong mỗi tế bào. Bệnh nhân mắc bệnh lặn trên nhiễm sắc thể thường sẽ có bố và mẹ mang một bản sao của gen đột biến, nhưng họ ít khi biểu hiện triệu chứng bệnh.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Phòng ngừa
Dày sừng da và tóc xoăn di truyền lặn đột biến gen JUP, DSP, DSC2 và KANK2, cha mẹ mang đột biến dị hợp nên gần như không có biểu hiện bệnh, do đó rất khó phát hiện cho đến khi sinh con. Để chủ động phòng ngừa, cha mẹ nên làm xét nghiệm sàng lọc gen lặn để chủ động cho tương lai của con. Các cặp vợ chồng trước khi mang thai cần tư vấn và xét nghiệm di truyền nhằm đảm bảo sinh con khỏe mạnh. Người thuộc nhóm nguy cơ mắc bệnh cần khám sức khỏe và tầm soát bệnh định kì.
Các tên gọi khác
- Anhidrotic ectodermal dysplasia
- Christ-Siemens-Touraine syndrome
- CST syndrome
- HED
References
- Genetic Testing Information. Arrhythmogenic right ventricular dysplasia 11. Retrieved June 26, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/gtr/conditions/C1864850/?_ga=2.41129698.1915637000.1719405397-1635318420.1684225451
- Genetic and Rare Diseases Information Center. Carvajal syndrome. Retrieved June 26, 2024 from https://rarediseases.info.nih.gov/diseases/5595/index
- Catalog of Genes and Diseases from OMIM. NAXOS DISEASE; NXD. Retrieved June 26, 2024 from https://omim.org/entry/601214
- U.S National Library of Medicine. Keratoderma with woolly hair. Retrieved June 26, 2024 from https://medlineplus.gov/genetics/condition/keratoderma-with-woolly-hair/
- MalaCards. Keratoderma with Woolly Hair (KWWH). Retrieved June 26, 2024 from https://www.malacards.org/card/keratoderma_with_woolly_hair
- National Organization for Rare Disorders. Cardiomyopathy dilated with woolly hair and keratoderma. Retrieved June 26, 2024 from https://rarediseases.org/gard-rare-disease/cardiomyopathy-dilated-with-woolly-hair-and-keratoderma/
- Orphanet. Woolly hair-palmoplantar keratoderma syndrome. Retrieved June 26, 2024 from https://www.orpha.net/en/disease/detail/420686
- National Library of Medicine. Type 4 Woolly Hair-Palmoplantar Keratoderma Syndrome: A Rare Entity. Retrieved June 26, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC8906310/
- National Library of Medicine. Cardiomyopathy, dilated, with wooly hair, keratoderma, and tooth agenesis. Retrieved June 26, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/medgen/862830
