• Skip to primary navigation
  • Skip to main content
  • Skip to footer
  • Hà Nội
  • TPHCM
  • Đà Nẵng
  • Sàng lọc thai NIPT
  • Chẩn đoán ung thư
  • Sàng lọc gen lặn
  • Chẩn đoán di truyền
  • Hà Nội
  • TPHCM
  • Đà Nẵng
  • Zalo
  • Facetime
  • Viber
  • Web chat
  • Gọi
  • Zalo
  • Dịch vụ
  • Địa chỉ
  • Đặt hẹn

Trung tâm xét nghiệm ihope

  • Xét nghiệm
    • Sàng lọc thai NIPT

      Phát hiện sớm hội chứng Down

    • Chẩn đoán ung thư

      Hỗ trợ điều trị trúng đích và miễn dịch

    • Sàng lọc gen lặn

      Phát hiện sớm các bệnh di truyền

    • Chẩn đoán di truyền

      Bệnh di truyền ở trẻ em và người lớn

    • Hợp tác
  • Thư viện
  • Hỗ trợ
  • Liên hệ
  • Xét nghiệm
    • Sàng lọc thai NIPT
    • Chẩn đoán ung thư
    • Sàng lọc gen lặn
    • Chẩn đoán di truyền
  • Links
    • Hỗ trợ
    • Liên hệ
    • Hợp tác
    • Thư viện
  • Gọi ngay
Thư viện Sức khỏeBệnh di truyềnĐột biến lặn

Thiếu cofactor molybdenum

26/06/202405/05/2025
Bệnh Thiếu Cofactor Molybdenum Min

Bệnh thiếu cofactor molybdenum (molybdenum cofactor deficiency) hiếm gặp và thường gây tổn hại chức năng não. Người ta chia bệnh thành hai dạng là thiếu cofactor molybdenum khởi phát sớm trong giai đoạn sơ sinh. Dạng thứ hai là thiếu cofactor molybdenum khởi phát muộn từ giai đoạn trẻ nhỏ đến trưởng thành.

cau-truc-ben-trong-cua-nao
Ảnh: Cấu trúc bên trong của não
Nguồn: Terese Winslow

Biểu hiện lâm sàng

Thiếu cofactor molybdenum khởi phát sớm

Thiếu cofactor molybdenum khởi phát sớm thuộc dạng nặng. Bệnh nhi thường xuất hiện các triệu chứng bệnh liên quan đến não ngay khi mới sinh. Động kinh là dấu hiệu phổ biến nhất. Trẻ thường có biểu hiện động kinh trong hai tuần sau sinh. Một số biểu hiện co giật khác bao gồm rung giật nhãn cầu và co giật khi ngủ.

Mô Tả Biểu Hiện Của Bệnh Nhân Trong Cơn Co Cứng Và Co Giật
Ảnh: Mô tả biểu hiện của bệnh nhân trong cơn co cứng và co giật
Nguồn: NEUROSURGERY Neurosurgery.

Trẻ có phản xạ quá mức đối với các kích thích âm thanh, hình ảnh hoặc tiếp xúc trên cơ thể. Những phản xạ này có thể là giật mình mạnh hoặc co cứng người. Người ta cũng ghi nhận một số bệnh nhân có các bệnh lý về mắt nhưng đây không phải là dấu hiệu phổ biến. Trẻ mới sinh có kích thước đầu bình thường. Tuy nhiên, quá trình thoái hoá não diễn ra dẫn đến kích thước đầu nhỏ khi trẻ trưởng thành.

đầu Nhỏ Bất Thường
Ảnh: Đầu nhỏ bất thường
Nguồn: National Human Genome Research Institute

Bệnh nhân có những điểm dị biệt trên khuôn mặt bao gồm:

  • Thái dương hẹp
  • Dáng mặt dài
  • Gò má lồi
  • Mắt lõm, hai mắt cách xa nhau
  • Khe mí mắt dài
  • Nhân trung dài
  • Mũi nhỏ
  • Môi dày
Tran-cao-thu-hep-o-phan-thai-duong

Ảnh: Trán cao thu hẹp lại ở thái dương
Nguồn: Elements of Morphology, National Human Genome Research Institute

khuon-mat-dai

Ảnh: Khuôn mặt dài
Nguồn: National Human Genome Research Institute

mat-xa

Ảnh: Khoảng cách giữa hai mắt rộng
Nguồn: Elements of Morphology, National Human Genome Research Institute

Xương Mũi Kém Phát Triển

Ảnh: Mũi nhỏ
Nguồn: Elements of Morphology, National Human Genome Research Institute

Bên cạnh đó, trẻ thiếu cofactor molybdenum có thể gặp một số vấn đề như:

  • Suy giảm khả năng ngôn ngữ
  • Vấn đề hô hấp như ngừng thở khi ngủ và viêm phổi hít
  • Khó nuốt và dễ sặc

Thiếu cofactor molybdenum khởi phát muộn

Thiếu cofactor molybdenum khởi phát muộn là dạng nhẹ. Bệnh nhân xuất hiện một số triệu chứng tương tự dạng khởi phát sớm nhưng ít nghiêm trọng hơn.

Người bệnh có các dấu hiệu suy giảm chức năng thần kinh-vận động bao gồm:

  • Tinh thần không ổn định
  • Loạn trương lực cơ
  • Co giật không tự chủ
  • Mất khả năng phối hợp cử động

Bên cạnh đó, người bệnh có triệu chứng khó ăn và bị lệch thuỷ tinh thể. Tuy nhiên, khác với dạng khởi phát sớm, họ có khả năng nhận thức bình thường và chỉ chậm phát triển mức độ nhẹ. Triệu chứng động kinh ít phổ biến đối với bệnh nhân thiếu cofactor molybdenum khởi phát muộn.

Lệch Thủy Tinh Thể
Ảnh: Lệch thủy tinh thể
Nguồn: ARZTSAMUI/Shutterstock.com

Độ phổ biến

Thiếu cofactor molybdenum rất hiếm gặp. Theo ước tính, trên toàn thế giới có 1/100.000–200.000 trẻ sơ sinh mắc bệnh. Người ta đã ghi nhận hơn 100 ca bệnh nhưng số liệu thực tế có thể nhiều hơn.

Nguyên nhân

Đột biến gen MOCS1, MOCS2 và GPHN lần lượt gây ra bệnh thiếu cofactor molybdenum. Gen MOCS1 cung cấp hướng dẫn tạo ra protein MOCS1A và MOCS1B. Gen MOCS2 cung cấp hướng dẫn tạo ra protein MOCS2A và MOCS2B. Bốn loại protein này kết hợp với nhau tạo thành phức hợp protein molybdopterin synthase. Gen GPHN cung cấp hướng dẫn tạo ra protein gephyrin. Ngoài ra, người ta cũng ghi nhận một trường hợp bệnh liên quan đến đột biến gen MOCS3. Gen này cung cấp hướng dẫn tạo ra protein MOCS3. Các protein này đều tham gia quá trình tổng hợp cofactor molybdenum.

Cofactor molypden có chứa nguyên tố molypden rất quan trọng đối với khả năng hoạt động của một số enzyme như sulfite oxidase, idehyde oxidase và xanthine dehydrogenase. Những enzyme này có chức năng phân giải hoặc chuyển hóa nhiều chất khác nhau trong cơ thể, trong đó một số chất sẽ gây hại nếu không được chuyển hóa.

Đột biến các gen MOCS1, MOCS2 hoặc GPHN làm suy giảm hoặc mất chức năng của những protein tham gia quá trình tổng hợp cofactor molybdenum. Khi đó, enzyme không có cofactor molybdenum nên nó không thể thực hiện chức năng phân giải hoặc chuyển hóa các chất. Vì vậy, một số chất như sulfite, S-sulfocysteine, xanthine tích tụ trong cơ thể đến mức gây độc.

Trong các chất trên, sulfite có thể gây độc cho não. Nồng độ sulfite cao bất thường có thể dẫn dến các bệnh lý về não, động kinh và những triệu chứng khác của bệnh thiếu cofactor molybdenum.

Cùng chuyên mục

  • Đột biến gen là gì?
  • Có những loại đột biến nào?
  • Có phải tất cả đột biến gen đều gây bệnh?
  • Bất thường nhiễm sắc thể là gì?
  • Thay đổi số lượng nhiễm sắc thể ảnh hưởng thế nào?

Xem thêm Đột biến gen và sức khỏe

Chẩn đoán

Bác sĩ thường chẩn đoán thiếu cofactor molybdenum dựa trên các biểu hiện lâm sàng, xét nghiệm máu, nước tiểu và xét nghiệm di truyền.

Xét nghiệm máu

Kết quả xét nghiệm máu của người bệnh sẽ có chỉ số:

  • Taurine tăng
  • Cystine giảm
  • Homocysteine giảm

Xét nghiệm nước tiểu

Kết quả xét nghiệm nước tiểu của người bệnh sẽ có chỉ số:

  • Xanthine tăng
  • Hypoxanthine tăng
  • Acid uric giảm
  • S-sulfocysteine tăng
  • Thiosulfate tăng

Xét nghiệm di truyền

Bệnh nhân cần thực hiện xét nghiệm di truyền nếu kết quả xét nghiệm máu hoặc nước tiểu cho thấy có dấu hiệu thiếu cofactor molybdenum. Bác sĩ có thể chỉ định xét nghiệm các gen GPHN, MOCS1, MOCS2 và MOCS3 để tìm đột biến gây bệnh.

Điều trị

Bác sĩ thường kê đơn fosdenopterin dạng uống hoặc tiêm cho bệnh nhân thiếu cofactor molybdenum nhằm khôi phục quá trình tổng hợp cofactor molybdenum trong cơ thể. Ngoài ra, bệnh nhân có thể áp dụng chế độ ăn ít protein để giảm quá trình tổng hợp sulfite.

Các phương pháp giúp bệnh nhân cải thiện triệu chứng bệnh bao gồm:

  • Sử dụng thuốc chống động kinh
  • Đặt ống thông dạ dày
  • Bổ sung thiamine
  • Tiêm botulinum toxin hoặc phenol
  • Bổ sung magnesium
  • Phẫu thuật mở khí quản

Cùng chuyên mục

  • Bệnh di truyền là gì?
  • Bệnh di truyền có chữa được không?
  • Bệnh di truyền được chẩn đoán thế nào?
  • Tư vấn di truyền học là gì?
  • Tại sao tôi cần tư vấn di truyền học?

Xem thêm Tư vấn di truyền

Dạng di truyền

Thiếu cofactor molybdenum di truyền theo kiểu lặn trên nhiễm sắc thể thường. Do đó, bệnh chỉ biểu hiện khi có cả hai bản sao của gen đột biến trong mỗi tế bào. Bệnh nhân mắc bệnh lặn trên nhiễm sắc thể thường sẽ có bố và mẹ mang một bản sao của gen đột biến, nhưng họ ít khi biểu hiện triệu chứng bệnh.

Di truyền gen lặn
Ảnh: Sơ đồ di truyền gen lặn từ cha mẹ sang con
Nguồn: U.S. National Library of Medicine

Người ta cũng ghi nhận ít nhất một bệnh nhân thiếu cofactor molybdenum do nhận hai bản sao gen MOCS1 đột biến từ bố hoặc mẹ thay vì một bản sao như thông thường. Đột biến này phát sinh trong quá trình hình thành tế bào trứng hoặc tinh trùng.

Cùng chuyên mục

  • Bất thường nhiễm sắc thể có di truyền không?
  • Bệnh di truyền trong gia đình là gì?
  • Bệnh sử gia đình quan trọng như thế nào?
  • Di truyền gen lặn

Xem thêm Di truyền trong gia đình

Phòng ngừa

Bệnh di truyền lặn do đột biến nhiều gen, cha mẹ mang đột biến dị hợp nên gần như không có biểu hiện bệnh, do đó rất khó phát hiện cho đến khi sinh con. Để chủ động phòng ngừa, cha mẹ nên làm xét nghiệm sàng lọc gen lặn để chủ động cho tương lai của con. Các cặp vợ chồng trước khi mang thai cần tư vấn và xét nghiệm di truyền nhằm đảm bảo sinh con khỏe mạnh. Người thuộc nhóm nguy cơ mắc bệnh cần khám sức khỏe và tầm soát bệnh định kỳ.

Các tên gọi khác

  • MOCOD
  • Deficiency of molybdenum cofactor
  • Combined molybdoflavoprotein enzyme deficiency
  • Combined xanthine oxidase and sulfite oxidase and aldehyde oxidase deficiency
  • Combined deficiency of sulfite oxidase, xanthine dehydrogenase, and aldehyde oxidase

References

  1. Genetic Testing Information. Combined molybdoflavoprotein enzyme deficiency. Retrieved June 04, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/gtr/conditions/C0268119/
  2. Genetic and Rare Diseases Information Center. Sulfite oxidase deficiency due to molybdenum cofactor deficiency. Retrieved June 04, 2024 from https://rarediseases.info.nih.gov/diseases/3705/index
  3. Catalog of Genes and Diseases from OMIM. MOLYBDENUM COFACTOR DEFICIENCY, TYPE A; MOCODA. Retrieved June 04, 2024 from https://omim.org/entry/252150
  4. U.S National Library of Medicine. Molybdenum cofactor deficiency. Retrieved June 04, 2024 from https://medlineplus.gov/genetics/condition/molybdenum-cofactor-deficiency/
  5. MalaCards. Molybdenum Cofactor Deficiency (MOCOD). Retrieved June 04, 2024 from https://www.malacards.org/card/molybdenum_cofactor_deficiency
  6. National Institute of Health. Molybdenum Cofactor Deficiency. Retrieved June 04, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK575630/
  7. National Organization for Rare Disorders. Molybdenum Cofactor Deficiency. Retrieved June 04, 2024 from https://rarediseases.org/rare-diseases/molybdenum-cofactor-deficiency-mocd/
  8. Orphanet. Sulfite oxidase deficiency due to molybdenum cofactor deficiency. Retrieved June 04, 2024 from https://www.orpha.net/en/disease/detail/99732

Filed Under: Đột biến lặn Tagged With: imuta-Bệnh não do động kinh, imuta-Động kinh, imuta-Rối loạn lysosome và mucopolysachcharidosis, imuta-Sỏi thận

Động kinh rung giật cơ tiến triển Lafora
Bệnh vảy cá Harlequin

Related posts

  • Bệnh não phát triển và động kinh loại 1

    Bệnh liên kết NST X
  • Hội chứng Partington

    Bệnh liên kết NST X
  • Não nhẵn kèm bất thường hệ sinh dục liên-kết-X

    Bệnh liên kết NST X
  • Alpha-mannosidosis

    Đột biến lặn
  • Galactosialidosis

    Đột biến lặn
  • Cường tuyến cận giáp di truyền

    Đột biến trội

Footer

  • Xét nghiệm

    • Sàng lọc thai NIPT
    • Chẩn đoán ung thư
    • Sàng lọc sơ sinh
    • Sàng lọc gen lặn
    • Bệnh di truyền
  • Giới thiệu

    • Về chúng tôi
    • Công nghệ
    • Thư viện
    • Hợp tác
  • Hỗ trợ

    • Hỏi đáp
    • Bảo hành
    • Chính sách
  • Liên hệ

    • +84968911884
    • [email protected]
    • Địa chỉ