Axit niệu 2-hydroxyglutaric (2-hydroxyglutaric aciduria) là bệnh di truyền gây tổn thương não tiến triển. Bệnh được chia thành ba dạng khác nhau bao gồm axit niệu L-2-hydroxyglutaric, axit niệu D-2-hydroxyglutaric và dạng kết hợp axit niệu D,L-2-hydroxyglutaric.
Biểu hiện lâm sàng
Dạng axit niệu D-2-hydroxyglutaric
Người bệnh có những triệu chứng như:
- Chậm phát triển
- Co giật
- Trương lực cơ yếu
Ngoài ra, phần đại não của người bệnh cũng xuất hiện những bất thường. Đại não là nơi kiểm soát nhiều chức năng quan trọng của con người như cử động cơ, lời nói, thị giác, suy nghĩ, cảm xúc và trí nhớ.

Nguồn: Terese Winslow
Axit niệu D-2-hydroxyglutaric được chia thành loại I và loại II. Loại II thường khởi phát sớm và có mức độ nghiêm trọng hơn so với dạng I. Ngoài ra, người bệnh thuộc loại II có biểu hiện bệnh cơ tim trong khi loại I không có biểu hiện này.

Nguồn: Alila Medical Media/Shutterstock.com

Ảnh: Mô tả biểu hiện của bệnh nhân trong cơn co cứng và co giật
Nguồn: NEUROSURGERY Neurosurgery.
Dạng axit niệu L-2-hydroxyglutaric
Dạng axit niệu L-2-hydroxyglutaric ảnh hưởng đến tiểu não—vùng liên quan đến quá trình phối hợp cử động. Do đó, người bệnh gặp vấn đề thăng bằng và phối hợp cơ (thất điều).
Những biểu hiện khác bao gồm:
- Chậm phát triển
- Co giật
- Khả năng nói hạn chế
- Đầu to
Các dấu hiệu thường khởi phát khi người bệnh còn là trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ. Theo thời gian, triệu chứng sẽ tiến triển nghiêm trọng hơn, dẫn đến bệnh nhận bị khuyết tật nặng khi trưởng thành.

Ảnh: Dị tật đầu to
Nguồn: National Library of Medicine
Dạng kết hợp axit niệu D,L-2-hydroxyglutaric
Dạng kết hợp axit niệu D,L-2-hydroxyglutaric gây ra bất thường nghiêm trọng tại não. Bệnh biểu hiện rõ trong giai đoạn đầu sơ sinh. Trẻ sơ sinh bị co giật nghiêm trọng, trương lực cơ yếu, gặp vấn đề hô hấp và ăn uống khó khăn. Trẻ mắc bệnh dạng kết hợp thường không thể sống đến tuổi trưởng thành.

Nguồn: Icahn School of Medicine at Mount Sinai
Độ phổ biến
Axit niệu 2-hydroxyglutaric niệu rất hiếm gặp. Hiện nay, chưa đến 150 trường hơp mắc bệnh axit niệu D-2-hydroxyglutaric và axit niệu L-2-hydroxyglutaric được ghi nhận trên toàn thế giới. Đối với dạng kết hợp axit niệu D,L-2-hydroxyglutaric, số lượng bệnh nhân chỉ khoảng vài chục người.
Nguyên nhân
Nhiều đột biến gen khác nhau gây ra bệnh axit niệu 2-hydroxyglutaric, cụ thể:
- Đột biến gen D2HGDH gây ra axit niệu D-2-hydroxyglutaric loại I
- Đột biến gen IDH2 gây ra axit niệu D-2-hydroxyglutaric loại II
- Đột biến gen L2HGDH gây ra axit niệu L-2-hydroxyglutaric
- Đột biến gen SLC25A1 gây ra dạng kết hợp axit niệu D,L-2-hydroxyglutaric
Gen D2HGDH và L2HGDH lần lượt cung cấp hướng dẫn tạo ra các enzyme trong ti thể —trung tâm sản xuất năng lượng của tế bào. Những enzyme này chuyển hóa hai hợp hai chất tương ứng gồm D-2-hydroxyglutarate và L-2-hydroxyglutarate nhằm góp phần tạo ra năng lượng cho hoạt động của tế bào.
Đột biến gen làm giảm sản xuất enzyme chức năng, do đó, hai chất D-2-hydroxyglutarate hoặc L-2-hydroxyglutarate không được chuyển hóa và tích tụ trong tế bào. Nồng độ các chất này quá cao có thể khiến tế bào bị tổn thương và gây ra cái chết tế bào (apoptosis). Tế bào não chịu tổn thương nghiêm trong dẫn đến dấu hiệu và triệu chứng của axit niệu D-2-hydroxyglutaric loại I và axit niệu L-2-hydroxyglutaric.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Gen IDH2 cung cấp hướng dẫn để tạo ra enzyme isocitrate dehydrogenase 2 trong ti thể. Enzyme này tham gia vào quá trình chuyển hóa isocitrate thành 2-ketoglutarate. Quá trình chuyển hóa này cũng đồng thời tạo ra phân tử NADPH cần thiết cho nhiều hoạt động quan trọng của tế bào.
Đột biến gen IDH2 làm thay đổi chức năng của enzyme nên enzyme tạo ra hợp chất D-2-hydroxyglutarate thay vì chuyển hóa isocitrate. Hợp chất này tồn tại quá nhiều trong cơ thể sẽ làm tổn thương tế bào não rồi dẫn đến các dấu hiệu và triệu chứng của axit niệu D-2-hydroxyglutaric loại II. Hiện nay, người ta đang tìm hiểu tại một số bệnh nhân, đột biến gen IDH2 gây ra bệnh cơ tim như thế nào.
Gen SLC25A1 cung cấp hướng dẫn tạo ra protein có chức năng vận chuyển một số phân tử vào và ra khỏi ti thể, ví dụ như citrate. Đột biến gen SLC25A1 khiến protein giảm chức năng, do đó quá trình vận chuyển bị ảnh hưởng. Quá trình vận chuyện bị gián đoạn tạo điều kiện cho hai hợp chất D-2-hydroxyglutarate và L-2-hydroxyglutarate tích tụ đến mức làm tổn thương tế bào não. Nồng độ phân tử citrate mất cân bằng cũng góp phần gây ra dấu hiệu và triệu chứng của dạng kết hợp axit niệu D,L-2-hydroxyglutaric.

Ảnh: Cấu trúc của ti thể
Nguồn: Designua/Shutterstock.com
Chẩn đoán
Axit niệu 2-hydroxyglutaric được chẩn đoán thông qua biểu hiện lâm sàng kết hợp với xét nghiệm chuyện biệt. Người bệnh có nồng độ axit niệu L-2-hydroxyglutaric trong nước tiểu, huyết tương và dịch não tủy cao hơn thông thường. Ngoài ra, nồng độ lysine trong nước tiểu cũng thường tăng cao.
Tuy nhiên, nồng độ axit hữu cơ trong nước tiểu tăng không giúp bác sĩ xác định được người bệnh bị axit niệu L-2-hydroxyglutaric hay axit niệu D-2-hydroxyglutaric. Vì vậy, bệnh nhân cần thực hiện thêm các xét nghiệm chuyên sâu nhằm chẩn đoán chính xác dạng bệnh.
Một số xét nghiệm chẩn đoán bao gồm:
- Chụp cộng hưởng từ MRI
- Chụp cắt lớp vi tính(CT)
- Xét nghiệm sinh hóa
- Xét nghiệm di truyền tìm đột biến gen L2HGDH
Ngoài ra, axit niệu 2-hydroxyglutaric có thể được chẩn đoán trước sinh thông qua đo nồng độ axit L-2-hydroxyglutaric trong nước ối.
Điều trị
Hiện nay, chưa có phương pháp điều trị hoàn toàn axit niệu 2-hydroxyglutaric. Các liệu pháp chủ yếu nhằm kiểm soát triệu chứng động kinh và cải thiện chất lượng đời sống bệnh nhân.
Dạng di truyền
Axit niệu D-2-hydroxyglutaric loại I, axit niệu L-2-hydroxyglutaric và dạng kết hợp axit niệu D,L-2-hydroxyglutaric di truyền theo kiểu lặn trên nhiễm sắc thể thường. Do đó, bệnh chỉ biểu hiện khi có cả hai bản sao của gen đột biến trong mỗi tế bào. Bệnh nhân mắc bệnh lặn trên nhiễm sắc thể thường sẽ có bố và mẹ mang một bản sao của gen đột biến, nhưng họ ít khi biểu hiện triệu chứng bệnh.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Axit niệu D-2-hydroxyglutaric loại II di truyền theo kiểu trội trên nhiễm sắc thể thường. Do đó, một bản sao của gen trong mỗi tế bào đủ để gây ra bệnh. Người bệnh thường được di truyền từ cha hoặc mẹ mắc bệnh. Một số ít trường hợp là do đột biến mới (denovo) xuất hiện trong quá trình hình thành tế bào sinh sản (trứng, tinh trùng) hoặc quá trình phát triển phôi sớm.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Phòng ngừa
Bệnh axit niệu 2-hydroxyglutaric di truyền lặn do đột biến nhiều gen, cha mẹ mang đột biến dị hợp nên gần như không có biểu hiện bệnh, do đó rất khó phát hiện cho đến khi sinh con. Cha mẹ nên làm xét nghiệm sàng lọc gen lặn để chủ động cho tương lai của con.
Các tên gọi khác
- 2-HGA
References
- Genetic Testing Information. 2-hydroxyglutaric aciduria. Retrieved June 30, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/gtr/conditions/C2746066/
- Genetic and Rare Diseases Information Center. 2-hydroxyglutaric aciduria. Retrieved June 30, 2024 from https://rarediseases.info.nih.gov/diseases/10761/index
- Catalog of Genes and Diseases from OMIM. D-2-HYDROXYGLUTARIC ACIDURIA 1; D2HGA1. Retrieved June 30, 2024 from https://omim.org/entry/600721
- U.S National Library of Medicine. 2-hydroxyglutaric aciduria. Retrieved June 30, 2024 from https://medlineplus.gov/genetics/condition/2-hydroxyglutaric-aciduria/
- MalaCards. D-2-Hydroxyglutaric Aciduria. Retrieved June 30, 2024 from https://www.malacards.org/card/d_2_hydroxyglutaric_aciduria
- National Institute of Health. L-2-hydroxyglutaric aciduria – review of literature and case series. Retrieved June 30, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC10129278/
- Orphanet. 2-hydroxyglutaric aciduria. Retrieved June 30, 2024 from https://www.orpha.net/en/disease/detail/19
- Radiopaedia. L-2-hydroxyglutaric aciduria. Retrieved June 30, 2024 from https://radiopaedia.org/articles/l-2-hydroxyglutaric-aciduria-1
