Dị tật thận và đường tiết niệu bẩm sinh (congenital anomalies of kidney and urinary tract) gồm một nhóm bệnh lí ảnh hưởng đến thận hoặc các cấu trúc khác của đường tiết niệu như bàng quang, ống dẫn nước tiểu từ thận đến bàng quang (niệu quản) và ống dẫn nước tiểu từ bàng quang ra bên ngoài cơ thể (niệu đạo). Bệnh khởi phát khi trẻ mới sinh do hệ tiết niệu phát triển bất thường trong giai đoạn phôi thai. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, những bất thường này được phát hiện khi trẻ lớn lên.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Biểu hiện lâm sàng
Dị tật thận và đường tiết niệu bẩm sinh bao gồm nhiều bất thường khác nhau liên quan đến thận hoặc đường tiết niệu.
Một số loại bất thường phổ biến bao gồm:
- Thiểu sản hoặc vô sản thận: thận phát triển không đầy đủ hoặc không có thận
- Thận loạn sản đa nang: thận có nhiều nang nhỏ, bên trong nang chứa đầy dịch
- Thận ứ nước: ứ đọng nước tiểu trong thận
- Thận đôi hoặc hệ thống thu thập nước tiểu kép: một bên thận có hai niệu quản thay vì một niệu quản như bình thường
- Hẹp khúc nối bể thận–niệu quản: tắc nghẽn tại vị trí niệu quản nối với thận
- Niệu quản lớn: niệu quản rộng bất thường
- Trào ngược bàng quang–niệu quản: dòng nước tiểu chảy ngược từ bàng quang vào niệu quản
- Van niệu đạo sau: hình thành màng ngăn bất thường trong niệu đạo làm cản trở dòng chảy của nước tiểu từ bàng quang

Ảnh: Trào ngược bàng quang-niệu quản
Nguồn: Cleveland Clinic

Ảnh: Bệnh thận đa nang
Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Bệnh biểu hiện với mức độ từ nhẹ đến nghiêm trọng. Đối với dạng nhẹ, người bệnh có dấu hiệu nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát. Trường hợp nghiêm trọng, người bệnh có thể tổn thương thận không hồi phục, suy thận và bệnh thận giai đoạn cuối.
Dị tật thận và đường tiết niệu bẩm sinh thường là biểu hiện của các bệnh đa hệ thống như:
- Coloboma thận
- Hội chứng mất đoạn 17q12
- Hội chứng thận đa nang và tiểu đường
- Hội chứng Fraser
- Hội chứng Townes-Brocks
- Hội chứng branchio-oto-renal
Những bệnh đa hệ thống này ảnh hưởng đến thận và nhiều cơ quan khác trong cơ thể. Do đó, người ta phân loại chúng là dị tật thận và đường tiết niệu bẩm sinh có hội chứng. Mặt khác, trường hợp bệnh gây ra bất thường về thận nhưng không ảnh hưởng đến cơ quan khác gọi là dị tật thận và đường tiết niệu bẩm sinh không hội chứng hoặc đơn lẻ.
Độ phổ biến
Ước tính tỉ lệ mắc dị tật thận và đường tiết niệu bẩm sinh khoảng 1/100–500 trẻ sơ sinh. Chúng là nguyên nhân phổ biến nhất dẫn đến bệnh thận giai đoạn cuối trên trẻ em.
Nguyên nhân
Nguyên nhân gây ra dị tật thận và đường tiết niệu bẩm sinh liên quan đến yếu tố di truyền và môi trường. Tuy nhiên, hiện nay người ta chưa hoàn toàn hiểu rõ cơ chế chính xác gây ra bệnh.
Yếu tố di truyền
Đột biến gen PAX2 và HNF1B là nguyên nhân phổ biến gây ra bệnh. Gen PAX2 cũng liên quan đến hội chứng coloboma thận. Mặt khác, gen HNF1B gây ra hội chứng mất đoạn 17q12, hội chứng thận đa nang và tiểu đường. Hai gen này có chức năng quan trọng với giai đoạn hình thành thận, đường tiết niệu cũng như các mô và cơ quan khác trong giai đoạn phát triển phôi thai. Do đó, đột biến hai gen này có thể dẫn đến các bất thường trong quá trình hình thành hệ tiết niệu rồi gây ra dị tật bẩm sinh.
Tuy người bệnh có cùng một đột biến gen nhưng mỗi người có các dạng bất thường thận và đường tiết niệu khác nhau. Người ta nhận thấy một số đột biến gen khác cũng tác động đến cách thức phát triển và mức độ nghiêm trọng của bệnh.
Yếu tố môi trường
Ngoài ra, các yếu tố môi trường cũng ảnh hưởng đến quá trình hình thành hệ tiết niệu trong giai đoạn phôi thai. Trẻ sơ sinh có nguy cơ mắc bệnh cao hơn nếu mẹ có các đặc điểm sau:
- Mắc bệnh đái tháo đường
- Sử dụng thuốc gây hại cho thận (thuốc chống động kinh)
- Thiếu vitamin và khoáng chất quan trọng trong thai kỳ (folate và sắt)
Chẩn đoán
Trước sinh
Dị tật thận và đường tiết niệu bẩm sinh có thể được chẩn đoán sớm trong thai kì thông qua siêu âm. Nếu siêu âm phát hiện bất thường, bác sĩ có thể chỉ định chẩn đoán hình ảnh tiền sản bổ sung nhằm đánh giá chính xác mức độ và nguy cơ đối với thai nhi.
Sau sinh
Sau sinh, bác sĩ có thể thực hiện chẩn đoán thông qua các xét nghiệm chuyên biệt bao gồm:
- Phân tích nước tiểu nhằm đánh giá nhiễm trùng và các bất thường sinh hóa
- Xét nghiệm máu đo tốc độ lọc cầu thận (GFR) để đánh giá chức năng thận
- Siêu âm: nhằm khảo sát cấu trúc thận và đường tiết niệu
- Chụp cắt lớp vi tính (CT) hoặc cộng hưởng từ (MRI) để có hình ảnh giải phẫu thận chi tiết
- Chụp X-quang bàng quang–niệu đạo khi tiểu (voiding cystourethrogram - VCUG) sử dụng tia X và chất cản quang nhằm đánh giá dòng chảy nước tiểu, từ đó bác sĩ có thể phát hiện trào ngược bàng quang–niệu quản
- Xạ hình thận nhằm đánh giá chức năng thận và quá trình thoát nước tiểu
Bên cạnh đó, bác sĩ có thể chỉ định sinh thiết thận trong một số trường hợp.
Điều trị
Điều trị dị tật thận và đường tiết niệu bẩm sinh được cá nhân hóa dựa trên loại bất thường và mức độ nghiêm trọng của bệnh. Mục tiêu chính của điều trị gồm tối ưu hóa chức năng thận, ngăn ngừa biến chứng và đảm bảo quá trình phát triển bình thường cho trẻ.
Đối với dạng nhẹ, trẻ mắc bệnh nên được theo dõi định kì. Nếu người bệnh bị trào ngược bàng quang-niệu quản, họ cần điều trị bằng kháng sinh dự phòng và có thể phẫu thuật tái tạo niệu quản.

Nguồn: Saint Luke’s
Trường hợp người bệnh có biểu hiện suy thận tiến triển, bác sĩ có thể chỉ định liệu pháp thay thế thận như lọc máu hoặc ghép thận. Ngoài ra, người bệnh cần được theo dõi chặt chẽ chức năng thận thông qua các chỉ số sinh hóa, qua đó điều chỉnh chế độ ăn uống và can thiệp kịp thời nếu cần thiết.

Nguồn: Mayo Clinic
Dạng di truyền
Dị tật thận và đường tiết niệu bẩm sinh có cơ chế di truyền phức tạp. Người ta ước tính khoảng 10–20% trường hợp mắc bệnh có tính chất gia đình, nghĩa là họ được di truyền từ cha mẹ mắc bệnh hoặc mang đột biến gen.
Trong phần lớn các trường hợp, bệnh di truyền theo kiểu trội trên nhiễm sắc thể thường. Do đó, một bản sao của gen trong mỗi tế bào đủ để gây ra bệnh. Người bệnh thường được di truyền từ cha hoặc mẹ mắc bệnh.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Trong một số trường hợp, bệnh di truyền theo kiểu lặn trên nhiễm sắc thể thường. Do đó, bệnh chỉ biểu hiện khi có cả hai bản sao của gen đột biến trong mỗi tế bào. Bệnh nhân mắc bệnh di truyền gen lặn trên nhiễm sắc thể thường có bố và mẹ mang một bản sao của gen đột biến, nhưng họ ít khi biểu hiện triệu chứng bệnh.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Ngoài ra, nhiều người mắc bệnh do đột biến mới (de novo) phát sinh trong quá trình hình thành tế bào sinh sản (trứng, tinh trùng) hoặc quá trình phát triển phôi sớm. Những trường hợp này không có tiền sử gia đình mắc bệnh.

Nguồn: U.S. National Library of Medicine
Phòng ngừa
Dị tật thận và đường tiết niệu bẩm sinh có cơ chế di truyền phức tạp, do đó rất khó khó để phòng bệnh. Bệnh có thể di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường, nếu cha hoặc mẹ mắc bệnh, con sinh ra có 50% khả năng di truyền bệnh. Do đó, để bảo đảm 100% khả năng con không bị bệnh, cha mẹ có thể chọn phương pháp thụ tinh nhân tạo IVF và sàng lọc phôi PGS/PGD. Các thành viên trong gia đình nên khám sức khỏe và tầm soát bệnh định kì nếu có thành viên mắc bệnh. Các cặp vợ chồng trước khi mang thai cần tư vấn và xét nghiệm di truyền đảm bảo sinh con khỏe mạnh.
Trường hợp bệnh di truyền lặn, cha mẹ mang đột biến dị hợp nên gần như không có biểu hiện bệnh, do đó rất khó phát hiện cho đến khi sinh con. Cha mẹ nên làm xét nghiệm sàng lọc gen lặn để chủ động cho tương lai của con.
Bên cạnh đó, bệnh có thể xảy ra do đột biến ngẫu nhiên xảy ra trong quá trình tạo phôi, vì vậy tất cả thai phụ đều có nguy cơ mang thai bị bệnh. Do đó, sàng lọc phát hiện bệnh sớm vô cùng quan trọng và cần thiết. Sản phụ nên thăm khám và siêu âm định kì cũng như làm các xét nghiệm cần thiết như sàng lọc NIPT nhằm phát hiện sớm vấn đề có thể xảy ra với thai nhi.
Các tên gọi khác
- CAKUT
References
- Genetic Testing Information. Congenital anomaly of kidney and urinary tract. Retrieved October 28, 2024 from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/gtr/conditions/C1968949/
- Catalog of Genes and Diseases from OMIM. CONGENITAL ANOMALIES OF KIDNEY AND URINARY TRACT 2; CAKUT2. Retrieved October 28, 2024 from https://omim.org/entry/143400
- U.S National Library of Medicine. Congenital anomalies of kidney and urinary tract. Retrieved October 28, 2024 from https://medlineplus.gov/genetics/condition/congenital-anomalies-of-kidney-and-urinary-tract/
- Children's Hospital of Philadelphia. Congenital Anomalies of the Kidneys and Urinary Tract. Retrieved October 28, 2024 from https://www.chop.edu/conditions-diseases/congenital-anomalies-kidneys-and-urinary-tract
- Cleveland Clinic. Congenital Urinary Abnormalities. Retrieved October 28, 2024 from https://my.clevelandclinic.org/health/diseases/16602-congenital-urological-anomalies
- National Institute of Health. Congenital Anomalies of the Kidney and Urinary Tract: A Clinical Review. Retrieved October 28, 2024 from https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC7451090/
- Orphanet. Renal or urinary tract malformation. Retrieved October 28, 2024 from https://www.orpha.net/en/disease/detail/93545
- The Radiological Society of North America. Congenital Anomalies of the Upper Urinary Tract: A Comprehensive Review. Retrieved October 28, 2024 from https://pubs.rsna.org/doi/10.1148/rg.2021200078
